Viêm phế quản là một bệnh lý của đường hô hấp trong đó niêm mạc của các phế quản trong phổi bị viêm. Niêm mạc phế quản bị kích thích sẽ phồng và dầy lên và làm hẹp hoặc tắc nghẽn các tiểu phế quản, sẽ gây ra ho và có thể kèm theo đờm (đàm) đặc.


Bệnh diễn tiến theo 2 dạng: cấp tính (kéo dài ngắn hơn 6 tuần) và mạn tính (tái phát thường xuyên trong vòng hơn 2 năm). Ngoài ra, ở những bệnh nhân bị hen phế quản (hen suyễn) thì niêm mạc phế quản cũng có thể bị viêm và gây nên tình trạng gọi là viêm phế quản dạng hen.


Viêm phế quản cấp tính bao gồm các triệu chứng ho có đờm và thỉnh thoảng có kèm nhiễm trùng đường hô hấp trên. Hầu hết nhiễm trùng này có nguyên nhân ban đầu là do siêu vi (virus), đôi khi còn do vi khuẩn. Nếu cơ thể bạn đang trong tình trạng sức khỏe tốt thì niêm mạc đường hô hấp sẽ trở về bình thường sau khi hồi phục từ nhiễm trùng hô hấp kéo dài trong vài ngày.


Viêm phế quản mạn tính là bệnh diễn tiến nặng và kéo dài, thường phải được điều trị đều đặn.


Nếu bạn là người hút thuốc và mắc Viêm phế quản cấp tính thì cơ thể bạn sẽ khó hồi phục hơn. Thậm chí nếu một người chỉ hít một hơi ngắn thuốc lá cũng đủ làm liệt tạm thời những lông mao có tác dụng đẩy những chất kích thích, bụi và những chất đờm nhầy trong đường hô hấp ra bên ngoài.


Nếu bạn vẫn tiếp tục hút thuốc, có nghĩa là những lông mao này tiếp tục bị tổn thương và không thể thực hiện đúng nhiệm vụ của chúng nữa, và do đó làm gia tăng nguy cơ khởi phát bệnh Viêm phế quản mạn tính. Ở những người nghiện hút thuốc nặng, hàng loạt lông mao sẽ bị mất chức năng. Phổi bị tắt nghẽn do nhiều đờm nhớt sẽ dễ bị nhiễm siêu vi và nhiễm khuẩn, theo thời gian sẽ gây biến dạng và tổn thương vĩnh viễn đường hô hấp trong phổi. Hiện tượng tổn thương vĩnh viễn này còn được gọi là Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Khi đó, bác sĩ sẽ tiến hành một thử nghiệm để đánh giá chức năng hô hấp được gọi là phế dung kế.


Viêm phế quản cấp tính thường gặp ở cả người lớn và trẻ em. Bệnh này có thể được điều trị hiệu quả mà không cần phải tiến hành chăm sóc y tế đặc biệt. Tuy nhiên, bệnh nhân cần được đưa đến bác sĩ để được thăm khám và điều trị khi có các triệu chứng nặng nề, kéo dài, hoặc bệnh nhân bị ho ra máu. Nếu bệnh nhân bị Viêm phế quản mạn tính thì sẽ có nguy cơ khởi phát các bệnh lý về tim mạch cũng như những bệnh lý nặng nề về hô hấp và nhiễm trùng. Do đó bệnh nhân cần được bác sĩ theo dõi chặt chẽ.




"Bệnh Viêm Phế Quản càng nặng, thời gian điều trị càng lâu, càng có nhiều biến chứng gây nguy hiểm tính mạng,
Phương pháp điều trị càng phức tạp và càng dễ tái phát"


;

SỨC KHỎE LÀ VỐN TÀI SẢN QUÝ GIÁ NHẤT!
Liên hệ tư vấn miễn phí: 1900 9237



HẬU QUẢ KHI KHÔNG ĐIỀU TRỊ
BỆNH VIÊM PHẾ QUẢN LÀ GÌ?

ĐÂU LÀ GIẢI PHÁP TỐT NHẤT
ĐỂ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM PHẾ QUẢN?




TÔI PHẢI THẮNG BỆNH VIÊM PHẾ QUẢN
BẰNG MỌI GIÁ !

TÔI PHẢI THẮNG BỆNH VIÊM PHẾ QUẢN BẰNG MỌI GIÁ !

SỨC KHỎE LÀ VỐN TÀI SẢN QUÝ GIÁ NHẤT!
Liên hệ tư vấn miễn phí: 1900 9237




Bệnh diễn tiến theo 2 dạng: cấp tính (kéo dài ngắn hơn 6 tuần) và mạn tính (tái phát thường xuyên trong vòng hơn 2 năm). Ngoài ra, ở những bệnh nhân bị hen phế quản (hen suyễn) thì niêm mạc phế quản cũng có thể bị viêm và gây nên tình trạng gọi là viêm phế quản dạng hen.

Viêm phế quản cấp tính
1. Định nghĩa và thuật ngữ:
 Là tình trạng viêm cấp tính cuả niêm mạc phế quản ở người trước đó phế quản không có tổn thương.
Thuật ngữ “ đợt cấp “ của viêm phế quản mạn và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hiện nay đang được thay thế bằng “ đợt bùng phát “ của các bệnh này.

2. Căn nguyên:

2.1. Vi rút và nhóm vi khuẩn không điển hình:  chiếm 50 - 90% các trường hợp. Các vi rút hay gặp: Rhino vi rút; Echo vi rút; Adeno vi rút; Myxo vi rút influenza và Herpes vi rút.
Ở trẻ em hay gặp vi rút hợp bào hô hấp và vi rút á cúm. Các vi khuẩn không điển hình như: Mycoplasma Pneumonia, Chlamydia.

2.2.Vi khuẩn : thường viêm lan từ đường hô hấp trên xuống, các vi khuẩn gồm:  liên cầu khuẩn, phế cầu khuẩn, Heamophilus influenzae, Moraxella catarrhalis. Những vi khuẩn này thường bị bội nhiễm thứ phát sau nhiễm vi rút. Ngoài ra viêm phế quản cấp còn có thể gặp trong các bệnh: sởi , thuỷ đậu, ho gà, thương hàn, bạch hầu.

2.3.Các yếu tố hoá, lý: hơi độc ( Clo, Amoniac ) , bụi nghề nghiệp, khói thuốc lá, không khí quá khô, ẩm, lạnh, hoặc quá nóng.

2.4.Dị ứng: ở trẻ em, người lớn bị dị ứng nặng phù Quink, mày đay.

2.5. Yếu tố thuận lợi: thay đổi thời tiết, bị nhiễm lạnh, thể địa yếu, mắc bệnh đường hô hấp trên.

3. Giải phẫu bệnh lý:   

 Tổn thương chỉ ở niêm mạc phế quản bao gồm:
Phù nề, xung huyết, bong biểu mô có chỗ loét, nhiều dịch nhầy hoặc mủ trong lòng phế quản.

4. Lâm sàng và chẩn đoán.

Viêm phế quản cấp thường xuất hiện cùng lúc hoặc ngay sau viêm đường hô hấp trên: hắt hơi, sổ mũi, ho khan, rát họng.
  - Hai giai đoạn của viêm phế quản cấp:
     + Giai đoạn đầu ( 3 - 4 ngày ) ( còn gọi là giai đoạn viêm khô )
. Sốt 38 - 390C, có thể tới 400, mệt mỏi, đau đầu, nhức mỏi xương khớp. cảm giác nóng rát sau xương ức. Khó thở nhẹ, có thể có tiếng rít, ho khan, có ho thành cơn về đêm. Nghe phổi có ran rít, ran ngáy.
    + Giai đoạn II: ( 6 - 8 ngày )  còn gọi là giai đoạn xuất tiết.
Các triệu chứng toàn thân và cơ năng giảm, ho khạc đờm nhầy, hoặc đờm mủ 
 ( khi bội nhiễm ). Nghe phổi có ran ẩm.
  - Các xét nghiệm cận lâm sàng ( ít có giá trị  chẩn đoán ) , bạch cầu có thể bình thường, tăng khi có bội nhiễm, hoặc giảm ( do vi rút ); xét nghiệm đờm: có nhiều xác bạch cầu đa nhân trung tính. Cấy đờm thường có tạp khuẩn, loại vi khuẩn gây bệnh ³ 107 / ml.
Xquang phổi: có thể bình thường hoặc  rốn phổi đậm.

5. Các thể lâm sàng:

     5.1. Viêm phế quản xuất huyết : thường ho ra máu số lượng ít lẫn đờm. Cần chẩn đoán phân biệt với ung thư phổi ở  người > 40 tuổi hút thuốc lá.

     5.2. Viêm phế quản cấp thể tái diễn: các yếu tố thuận lợi: 
     + Các yếu tố bên ngoài: hút thuốc lá, hít phải khí độc, NO2 , SO2...
     + Các yếu tố bên trong:
. Tắc nghẽn phế quản: dị vật đường thở ở trẻ em, ung thư phế quản ở người lớn, các ổ nhiễm khuẩn ở răng miệng, tai mũi họng, suy tim trái, trào ngược dạ dầy thực quản. Hoặc các bệnh như hen phế quản, xơ phổi kén , suy giảm miễn dịch.

    5.3 . Viêm phế quản cấp thể co thắt: ở trẻ em và người trẻ.

    5.4. Viêm khí - phế quản  cấp có giả mạc: do bạch hầu.

    5.5. Viêm phế quản cấp cục bộ: chẩn đoán bằng nội soi phế quản.

6.Chẩn đoán phân biệt.

      6.1. Viêm họng cấp: sốt, ho, nhưng nghe phổi bình thường. Xquang phổi bình thường
     6.2. Các bệnh phổi và phế quản khác: hen phế quản, ung thư phế quản, phế quản phế viêm, viêm phổi vi rút...
     6.3. Giãn phế quản: ho khạc đờm kéo dài mạn tính, có thể có ngón tay dùi trống. Chụp cắt lớp vi tính có ổ giãn phế quản.
     6.4. Viêm phế quản mạn: ho khạc đờm kéo dài mạn tính 3 tháng / năm, ít nhất 2 năm liên tiếp, không do các bệnh phổi khác như: lao hoặc giãn phế quản.
     6.5. Viêm phổi do vi khuẩn: có hội chứng nhiễm khuẩn, hội chứng đông đặc. Xquang có tổn thương nhu mô phổi.

7.Tiến triển và biến chứng

     7.1. Tiến triển: viêm phế quản cấp tiến triển lành tính, ở người khoẻ mạnh thường tự khỏi sau 2 tuần, không để lại di chứng gì, ở người nghiện thuốc lá thường có bội nhiễm và ho khạc đờm kéo dài.
     7.2. Biến chứng; 
  - Viêm phổi, phế quản phế viêm: thường xảy ra ở người già và trẻ em suy dinh dưỡng.
  - Tăng tính phản ứng của phế quản với lạnh, khói và bụi , kéo dài vài tuần sau viêm phế quản cấp. Biểu hiện bằng ho khan kéo dài hàng tuần lễ.

8. Điều trị.

  - Giữ ấm, tránh lạnh, tránh bụi. Thoáng mát về mùa hè.
  - Bỏ hút thuốc lá, hoặc bỏ tiếp xúc với các chất lý, hoá gây độc. Nghỉ ngơi.
  - Khi ho khan: dùng thuốc giảm ho như: Tecpin-codein, Paxeladine. Giai đoạn ho khạc đờm dùng thuốc long đờm : ho cam thảo, Mucomyst, Mucitux.
  - Kháng sinh: khi có bội nhiễm hoặc người có nguy cơ biến chứng: Amoxicilin, Erythromyxin, Cephalexin.
  - Khi có co thắt phế quản: Theophylin, Salbutamol.
  - Thuốc an thần, kháng Histamin.
  - Có thể dùng Prednisolon cho những trường hợp ho kéo dài có co thắt phế quản một đợt ngắn 5 - 10 ngày.

(Theo Benhhoc.com)
Viêm phế quản mãn tính
02:25:32, 21/01/2010
1. Viêm phế quản mạn tính là gì?
1.1. Định nghĩa: 
Viêm phế quản mạn tính là một tình trạng viêm tăng tiết nhầy mạn tính  của niêm mạc phế quản, gây ho và khạc đờm liên tục hoặc tái phát từng đợt ít nhất 3 tháng trong một năm và ít nhất là 2 năm liền.
Định nghĩa này loại trừ các bệnh gây ho khạc mạn tính khác: lao phổi, giãn phế quản ...

1.2. Phân loại:
  - Viêm phế quản mạn tính đơn thuần: chỉ ho và khạc đờm, chưa có rối loạn thông khí phổi Có thể điều trị khỏi.
  - Viêm phế quản mạn tính tắc nghẽn: triệu chứng chính là khó thở, do tắc nghẽn  lan rộng và thường xuyên của phế quản. Còn gọi là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ( COPD : Chronic Obstructive Pulmonary Disease ).
  - Viêm phế quản mạn tính nhầy mủ: ( Brochit chronic mucopurulence ) ho và khạc đờm nhầy từng đợt kịch phát hoặc liên tục.

1.3. Nguyên nhân và bệnh sinh:
  - Hút thuốc lá, thuốc lào: 88% số người nghiện hút thuốc bị viêm phế quản mạn tính. Khói thuốc lá làm giảm vận động tế bào có lông của niêm mạc phế quản, ức chế chức năng đại thực bào phế nang, làm phì đại và quá sản các tuyến tiết nhầy, làm bạch cầu đa nhân giải phóng men tiêu Protein. Khói thuốc lá còn làm co thắt cơ trơn phế quản.
  - Bụi ô nhiễm: SO2, NO2. Bụi công nghiệp, khí hậu ẩm ướt, lạnh.
  - Nhiễm khuẩn:  vi khuẩn, virut, những ổ viêm nhiễm ở đường hô hấp trên và viêm phế quản cấp là cơ sở thuận lợi cho viêm phế quản mạn tính phát triển.
  - Cơ địa và di truyền: dị ứng, người có nhóm máu A dễ bị viêm phế quản mạn tính, Thiếu hụt IgA  , hội chứng rối loạn vận động rung mao tiên phát, giảm a1Antitripsin.
   - Yếu tố xã hội: cuộc sống nghèo nàn, lạc hậu.
   - Cơ chế bệnh sinh chủ yếu do:
     + Biến đổi chất gian bào.
     + Mất cân bằng giữa Protêaza và kháng Proteaza.
     + Mất cân bằng giữa hệ thống chống oxy hoá và chất oxy hoá.

1.4. Giải phẫu bệnh lý:
Tổn thương từ khí quản-phế quản lớn đến các phế quản tận, bao gồm: phá huỷ biểu mô phế quản, giảm tế bào lông và thay đổi cấu trúc rung mao, quá sản các tế bào hình đài, tăng sản và phì đại tuyến nhầy, chỉ số Reid ³0,7 là chỉ số của bề dầy tuyến / thành phế quản, (bình thường chỉ số này £ 0,4 ) 
Đường thở nhỏ tổn thương viêm mạn tính: phì đại cơ trơn, loạn sản tế bào chế nhầy, bong biểu mô gây hẹp lòng đường thở nhỏ và tăng sức cản đường thở.
Những trường hợp có biến chứng khí phế thũng, thì có tổn thương đường thở ở trung tâm tiểu thuỳ và giãn ra không hồi phục, gây khí phế thũng trung tâm tiểu thuỳ.

2.Triệu chứng lâm sàng:
  - Thường ở người trên 40 tuổi, nghiện thuốc lá, thuốc lào. Thường xuyên ho khạc về buổi sáng. Đờm nhầy trong, dính hoặc màu xanh, vàng đục, mỗi ngày không quá 200ml. Mỗi đợt kéo dài 3 tuần, tăng về mùa đông và đầu mùa thu.
  - Đợt bùng phát của viêm phế quản mạn tính, thường xảy ra ở người già, yếu, do bội nhiễm. Có thể sốt, ho, khạc đờm và khó thở, có thể tử vong do suy hô hấp và tâm phế mạn.
  - Ở người mắc bệnh lâu năm ( bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ) , lồng ngực biến dạng hình thùng, hình phễu, khó thở rút lõm cơ hô hấp, rút lõm kẽ gian sườn, phần đáy bên của lồng ngực co hẹp lại khi hít vào (dấu hiệu Hoover ), rút lõm hõm ức, khí quản tụt xuống khi hít vào ( dấu hiệu  Campbell ). Gõ phổi vang trầm, nghe rì rào phế nang giảm, tiếng thở thanh-khí-phế quản giảm hoặc thô ráp, có thể có ran rít, ran ngáy và ran ẩm.Có thể có hội chứng ngừng thở khi ngủ, mạch đảo nghịch ( chênh lệch huyết áp tâm thu khi hít vào và thở ra ³ 10mmHg ) cao áp động mạch phổi và tâm phế mạn.

3.Cận lâm sàng:
3.1. X quang:
  Tuy ít giá trị chẩn đoán nhưng, Xquang phổi giúp chẩn đoán phân biệt các bệnh gây ho khạc mạn tính và để chẩn đoán biến chứng.
  - Viêm phế quản mạn tính giai đoạn đầu, Xquang phổi chưa có biểu hiện.
  - Khi viêm phế quản mạn tính thực thụ, sẽ thấy các hội chứng Xquang:
     + Hội chứng phế quản: dầy thành phế quản (3-7mm), dấu hiệu hình đường ray, hình nhẫn. Kèm theo viêm quanh phế quản, mạng lưới mạch máu tăng đậm, tạo hình ảnh phổi  “ bẩn”.
     + Hội chứng khí phế thũng: giãn phổi, tăng sáng, 0giãn mạng lưới mạch máu ngoại vi, có các bóng khí thũng.
     + Hội chứng mạch máu: cao áp động mạch phổi (mạch máu trung tâm to, ngoại vi thưa thớt).
  - Chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao (HRCT : High Resolution Computed Tomography ) thấy rõ được các dấu hiệu của hội chứng phế quản nói trên và khí phế thũng.
  - Chụp động mạch phế quản có thể thấy giãn động mạch phế quản và cầu nối giữa động mạch phế quản và động mạch phổi.
  - Chụp xạ nhấp nháy (Scintigraphie): dùng senon 133 có thể thấy phân bố khí không đều ở các phế nang. Dùng 131I để thấy sự phân bố máu không đều trong phổi.

3.2. Thăm dò chức năng hô hấp:
  - Thông khí phổi: viêm phế quản mạn tính khi có rối loạn thông khí tắc nghẽn thì gọi là  bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính .
     + FEV1 ( VEMS ) giảm  < 80% lý thuyết, càng giai đoạn muộn thì càng giảm.
     + Raw ( sức cản đường thở ) tăng sớm .
     + VC ( dung tích sống ) giảm, khi có tắc nghẽn và khí phế thũng.
    + Chỉ số Tiffeneau  hoặcGaensler  giảm.
  - Khí động mạch: có giá trị chẩn đoán suy hô hấp trong các đợt bùng phát: PaO­2 giảm ( < 60mmHg ) PaCO2 tăng ( > 50mmHg ).

4. Chẩn đoán:
4.1. Chẩn đoán xác định:
  Dựa vào tiêu chuẩn trong định nghĩa và triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng.

4.2. Chẩn đoán phân biệt:
  - Lao phổi:  ho kéo dài, Xquang  có hình ảnh ” phổi bẩn”
  - Giãn phế quản: ho và khạc đờm nhiều. Nhưng < 200ml/24 giờ.
  - Hen phế quản: cần chẩn đoán phân biệt với viêm phế quản mạn tính tắc nghẽn, dùng test xịt Salbutamol 200 - 300 mg và đo FEV1, nếu FEV1 tăng không quá 15% là viêm phế quản mạn tính tắc nghẽn .
  - Ung thư phế quản: ho kéo dài. Xquang có hình ảnh u hoặc hạch chèn ép.
  - Khí phế thũng: khi viêm phế quản mạn tính chưa biến chứng khí phế thũng.
Có thể căn cứ vào bảng sau để chẩn đoán:

Khí phế thũng
Viêm phế quản mạn tính.
Khó thở:
nặng
Vừa
Ho:
có sau khó thở
Có trước khó thở
Viêm đường thở:
ít
Thường xuyên
Suy hô hấp:
giai đoạn cuối
Từng đợt cấp
Xquang:
giãn phổi, tăng sáng
Hình ảnh “ Phổi bẩn”
Sức cản đường thở ( Raw ):          
tăng nhẹ
Tăng nhiều.





5.Tiến triển và biến chứng:

  - Tiến triển: từ từ nặng dần 5-20 năm, nhiều đợt bùng phát dẫn đến biến chứng khí phế thũng và tâm phế mạn, suy hô hấp.
  - Biến chứng: 
     + Khí phế thũng trung tâm tiểu thuỳ.
     + Tâm phế mạn, cao áp động mạch phổi.
     + Bội nhiễm: viêm phổi, áp xe phổi, lao phổi...
     + Suy hô hấp: cấp và mạn.

6.Điều trị:

6.1. Đối với viêm phế quản mạn, không có tắc nghẽn:

 Cần dự phòng bằng cách:
 Bỏ hút thuốc, tránh lạnh, tránh bụi, phòng chống nhiễm khuẩn đường hô hấp trên bằng súc họng, nhỏ mũi. Tiêm vacxin đa giá: Rhibomunyl, phòng chống cúm. Điều trị tốt bệnh tai mũi họng. Dùng vitamin A, C, E ( chống oxy hoá ).
- Khi có bội nhiễm phế quản:
   +Dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ. Hoặc dùng kháng sinh loại Gram (+)   Tetraxyclin 1g / ngày hoặc Ampixilin 1g / ngày, hoặc Erythromyxin. Có thể phối hợp cả 2 nhóm trên.
- Có thể dùng kháng sinh mạnh: Rulid 150 mg ´ 2v / 24giờ hoặc       Rovamyxin  3 tr UI / 24 giờ .
   + Long đờm: Natribenzoat 3% ´ 20ml / 24giờ, hoặc Acemuc, Bisorven, Mucosolvan, RhDnase.
   + Vỗ rung và dẫn lưu theo tư thế. Ngày 2-3 lần. Mỗi lần 15 phút-30 phút
   + Chống co thắt phế quản: xịt Salbutamol hoặc uống Theophylin, nếu nhiều đờm xịt Atrovent.
6.2. Đối với viêm phế quản mạn tính tắc nghẽn:
  Ngoài các biện pháp trên cần thêm:
     + Chống viêm bằng nhóm Corticoid: xịt Budesonide ( Pulmicort )  hoặc uống Prednisolon 30 mg / ngày, giảm liều dần hoặc tiêm truyền tĩnh mạch.
     + Thở Oxy, thở máy, đặt nội khí quản hút rửa, chống suy tim khi có tâm phế mạn.
  - Ngoài đợt bùng phát : cần điều trị dự phòng và tập thở bụng

(Theo Benhhoc.com)


Theo GiaoDucSucKhoe.Net

Cần đưa bệnh nhân đến bác sĩ để được thăm khám và điều trị thích hợp khi bệnh nhân có một trong những triệu chứng, dấu hiệu sau:

- Các triệu chứng có thể gặp trong Bệnh viêm phế quản cấp tính là:
  • Ho liên tục
  • Có đờm màu vàng, trắng hoặc xanh lá cây, thường xuất hiện từ 24 - 48 giờ sau khi ho…
  • Sốt cao, lạnh run
  • Đau hay cảm giác thắt ngực
  • Đau dưới xương ức khi thở
  • Thở ngắn

- Các triệu chứng có thể gặp trong Bệnh viêm phế quản mạn tính là:
  • Ho kéo dài có đờm màu vàng, trắng hoặc xanh lá cây (kéo dài ít nhất 3 tháng trong 1 năm và liên tục trong hơn 2 năm)
  • Hơi thở khò khè, đôi khi ngừng thở

Các Dấu Hiệu Nặng Của Bệnh Viêm Phế Quản Cần Được Phát Hiện Sớm Để Đưa Bệnh Nhân Đến Bác Sĩ ?

- Cần đưa bệnh nhân đến bác sĩ để được thăm khám và điều trị thích hợp khi bệnh nhân có một trong những dấu hiệu sau:
  • Ho nhiều, kéo dài và làm ảnh hưởng đến giấc ngủ hoặc các sinh hoạt hàng ngày, hoặc có kèm đau ngực dai dẳng. Có thể bệnh nhân đang bị tổn thương các phế nang bên trong phổi.
  • Các triệu chứng kéo dài trên 1 tuần, và đờm trở nên nhiều hơn, sậm màu hơn, đặc hơn hoặc có máu
  • Bệnh nhân bị Viêm Phế Quản cấp tính mà có kèm các vấn đề về tim phổi mạn tính, hoặc bị nhiễm virus HIV, nhiễm trùng hô hấp... mà có thể làm cho bệnh nhân dễ mắc các bệnh lý ở phổi nặng hơn như viêm phổi.
  • Khó thở. Đây là triệu chứng thường bị hiểu lầm là do Viêm Phế Quản. Nhưng nó còn là dấu hiệu của bệnh hen suyễn, khí phế thủng, lao phổi, bệnh tim, phản ứng dị ứng nặng hoặc do ung thư.


Theo DanTri.Com.Vn

Viêm phế quản là bệnh thường gặp ở trẻ em, bất kể thời tiết thế nào. Và nếu không được chữa trị kịp thời và đúng cách, căn bệnh này rất dễ trở thành mãn tính. Sau đây là một số hiểu biết cơ bản giúp bạn “ứng phó” với căn bệnh này khi cần thiết.

Triệu Chứng Của Bệnh Viêm Phế Quản

- Vi rút là thủ phạm chính gây nên các chứng bệnh thường thấy ở trẻ nhỏ như cảm lạnh, ho, cúm hay viêm xoang. Sau đó nếu không được chữa trị kịp thời chúng có thể lây lan tới hai cuống phổi (bộ phận nối cổ họng và hai lá phổi với nhau), điều này rất nguy hiểm. Chúng sẽ làm cho khí quản sưng phồng, tấy đỏ và một phần dịch nhầy trong phổi bị ứ đọng lại. Nếu bé có những biểu hiện trên cùng với sốt kéo dài trong vài ngày hay ho kéo dài trong vòng từ 2 - 3 tuần, vậy là bé đã bị viêm phế quản.

- Tiếp sau đó, trẻ bắt đầu ho nhiều hơn, có cảm giác đau rát cổ họng và xuất hiện đờm màu xanh, xám, hay hơi vàng. Trẻ sẽ có cảm giác đau ngực, sốt nhẹ, và mệt mỏi.

- Bên cạnh đó, khói thuốc lá và bụi bẩn cũng là những nguyên nhân không thể loại trừ. Đa số các thanh thiếu niên nghiện thuốc lá hay trẻ em phải sống trong môi trường có khói thuốc lá, rất dễ có nguy cơ bị viêm phế quản mãn tính.

Cách Chữa Trị Bệnh Viêm Phế Quản

- Liệu pháp để điều trị căn bệnh này là nới rộng khí quản cho trẻ, hay bác sĩ có thể kê loại thuốc ho giúp trẻ không bị tắc đờm trong cổ họng, đôi khi bác sĩ sẽ dùng một cái ống để hút các chất nhầy trong phổi.

- Bạn không nên dùng thuốc ho để điều trị chứng ho khan ở trẻ, nếu ho giúp bé tống hết đờm ra ngoài, thì hoàn toàn lại là việc rất hữu ích, nó sẽ giúp bé mau chóng bình phục hơn.

- Nếu bác sĩ chuẩn đoán, bệnh hen suyễn hay căn bệnh dị ứng khí quản, chính là nguyên nhân khiến trẻ bị ho, trong trường hợp này bác sĩ sẽ cho bé uống loại thuốc bronchodilator (một loại thuốc giúp khí quản có thể mở rộng hơn) hay corticosteroid (một loại thuốc làm dịu các vết sưng tấy).

* Lưu ý rằng viêm phế quản là do một loại virut gây nên, điều này đồng nghĩa với việc thuốc kháng sinh sẽ không đem lại ích lợi gì cho việc điều trị.

- Bạn hãy cho bé uống 8 tới 10 cốc nước mỗi ngày, để giúp bé không bị tắc nghẽn sung huyết.

- Không khí trong nhà khô hanh, lạnh, bụi bẩn và nhiều khói thuốc cũng sẽ gây cho bé cảm giác khó chịu, hay thậm chí là sưng tấy khí quản, hãy dùng máy giữ ẩm không khí để tăng độ ẩm, và luôn đảm bảo cho bé căn phòng sạch sẽ, ấm áp, và đặc biệt không có khói thuốc. Bạn có thể cho bé uống acetaminophen hay ibuprofen để giúp bé hạ sốt và giảm đau.

- Ngay khi trẻ bị cảm lạnh hay mắc các chứng bệnh không đáng lo ngại, thì cũng nên điều trị dứt điểm ngay, để tránh các biến chứng về sau.

- Trong trường hợp bé có biểu hiện thở dốc, tái mặt hay ho ra máu, bạn nên đưa bé tới bệnh viện ngay trước khi quá muộn vì khi đó bé đang gặp nguy hiểm.


Phục Hồi Chức Năng Sau Điều Trị Viêm Phế Quản

 Sau quá trình điều trị, bạn nên cho bé sử dụng phương pháp vật lý trị liệu để hỗ trợ phục hồi phế quản của bé.

 Hiện tại trên thị trường có xuất hiện sản phẩm máy vật lý trị liệu star 10, máy sử dụng chức năng điện âm cân bằng ION sẽ hỗ trợ quá trình hồi phục của bé nhanh chóng hơn.

 Nếu có các vấn đề cần tư vấn, bạn vui lòng gọi ngay tổng đài tư vấn:
1900 9237
để được hỗ trợ.


;


Viêm phế quản mạn - Dùng thuốc gì?

Viêm phế quản mạn có biểu hiện ho và khạc đờm... mỗi năm ít nhất 3 tháng (có thể không liên tục), kéo dài ít nhất 2 năm (nhưng không phải do lao, do nấm phổi, áp-xe, giãn phế quản).


Nguyên nhân chủ yếu: 

Virut, vi khuẩn. Tuy nhiên, các vi khuẩn từ các ổ nhiễm khuẩn ở đường hô hấp trên, răng, miệng, xoang có thể gây bội nhiễm, tạo nên biến chứng thứ phát của một đợt tăng tiết phế quản cấp tính của viêm phế quản mạn.

Điều trị: có thể dùng các thuốc chữa các triệu chứng và các thuốc kháng virut, vi khuẩn.
- Thuốc long đờm: Chất tiết ứ đọng ở phế quản làm trở ngại ở đường dẫn khí. Thuốc long đờm tạo điều kiện để phản xạ ho tống chất tiết ra ngoài làm thông đường dẫn khí. 

- Nếu chất tiết ít nhưng đặc khó tống ra ngoài thì dùng thuốc làm loãng chất tiết như natri benzoat, terpinhydrat. 
- Nếu chất tiết nhiều và đặc, việc làm loãng sẽ tăng thể tích gây khó khăn cho việc thông khí thì dùng các chất khử chứa lưu huỳnh như acetylstein, carboxystein. 
- Có thể dùng thuốc làm giảm ho nhưng với liều thích hợp chứ không vì muốn hết ho ngay mà dùng liều quá cao, vì liều quá cao sẽ làm mất hết phản xạ ho, nghĩa là làm cho việc tống chất tiết bị trở ngại.



Điều trị cho bệnh nhân viêm phế quản
- Thuốc kháng viêm: Viêm làm cho việc thông khí bị trở ngại. Dùng corticoid uống, xông hay hít, trường hợp nặng dùng dạng tiêm để kháng viêm.
- Thuốc chống tắc nghẽn phế quản: Dùng thuốc làm giãn phế quản nhằm giảm sự tắc nghẽn đường dẫn khí như theophylin, các thuốc chủ vận beta 2 (loại tác dụng ngắn như salbutamol, terbutalin, fenoterol và loại có tác dụng dài như salmeterol, formoterol).
- Theophyllin có tác dụng làm giãn phế quản nên giảm sự khó thở. Thuốc làm lợi tiểu, tim đập nhanh, kích thích thần kinh. Dùng liều điều trị vừa đủ sẽ tận dụng tác dụng chính, dùng liều cao sẽ bị các tác dụng phụ. Khoảng cách giữa liều có hiệu lực và liều độc ngắn, nếu dùng không đúng dễ bị ngộ độc.

Với người lớn, thuốc khó dung nạp, thải trừ chậm, ít gây độc, mỗi ngày chỉ cần dùng 2 lần. Trong khi với trẻ em, thuốc dễ dung nạp, thải trừ nhanh, dễ gây độc, mỗi ngày dùng tới 4-5 lần. Hầu hết thuốc chuyển hóa ở gan, thải trừ qua nước tiểu nên người suy gan thận hoặc trẻ nhỏ khả năng thanh thải chất độc ở gan chưa đủ mạnh thì không nên dùng. Thuốc tiết qua sữa không nên dùng cho người cho con bú, nếu bà mẹ cần dùng thì cho trẻ ăn sữa bổ sung.

Các thuốc chủ vận beta-2 có tác dụng kích thích thụ thể beta-2 adrenergic dẫn đến giãn cơ trơn, chống co thắt phế quản, làm thông đường thở. Tùy theo mức nghẽn phế quản (dài hay ngắn) mà chọn thuốc cho phù hợp. Dùng dạng hít xông qua mũi miệng (hiệu lực nhanh, kịp thời cắt cơn nghẽn phế quản). Nhóm này có tác dụng phụ: làm tăng nhu cầu tiêu thụ ôxy khi nghỉ, gây nhịp tim nhanh lúc nghỉ, rối loạn nhịp tim, run tay, hạ kali máu. Không nên dùng loại uống vì hấp thu chậm, khởi phát hiệu lực muộn (không đáp ứng kịp thời cắt cơn nghẽn phế quản), phải dùng liều cao hơn, dễ gây kích thích tim mạch, kích động, run cơ, nhức đầu.

Kháng cholinergic và chủ vận beta 2 đều gây quen thuốc (đợt sau phải dùng liều cao hơn mới đạt hiệu quả như đợt trước). Không nên dùng kéo dài mà nên dùng ngắt quảng.

Các thuốc kháng virut, vi khuẩn
- Kháng virut: Dùng kháng virut để chống lại nguyên nhân gây viêm phế quản mạn. Thuốc thường dùng là loại kháng virut cúm A.
- Kháng vi khuẩn: Tùy mức nguy hiểm và độ nặng do chủng vi khuẩn gây ra mà có thể dùng kháng sinh thông thường hay kháng sinh mạnh, dùng một loại kháng sinh hay phối hợp hai loại kháng sinh trở lên. Mỗi đợt dùng nếu thể nhẹ 8-15 ngày, nếu thể nặng kéo dài 4-6 tuần. Một số kháng sinh có thể dùng như: benzylpenicilin, ceftriazon, augmentin…

Viêm phế quản mạn khá nguy hiểm nhất là những đợt bị bội nhiễm, cần được điều trị tích cực. Việc dùng các thuốc chữa triệu chứng và dùng kháng sinh cần do bác sĩ chỉ đinh cụ thể về liều lượng và thời gian dùng. Người bệnh không tự ý dùng thuốc.


Mùa đông và ẩm ướt đưa lại nhiều phiền phức cho người bị hen phế quản và viêm phế quản mạn tính. Do vậy, ứng dụng một số biện pháp phục hồi chức năng vừa cải thiện chức năng hô hấp vừa hạn chế các cơn hen phế quản cũng như viêm phế quản.

Dấu hiệu để phát hiện cơn hen phế quản

Người đó có ho, hắt hơi, ngứa mũi, chảy nước mắt; Cảm giác bó, chẹn, đau ở ngực và vai do khó thở; Khó thở khi thở ra, nghe thấy tiếng rít; Ho khan, khó khạc đờm; Co kéo hõm ức, khoang liên sườn; Mệt, vã mồ hôi, phải ngồi để thở. Cơn hen có thể kéo dài vài phút hoặc diễn ra liên tục trong 24 giờ.

Biểu hiện của viêm phế quản mạn tính

Người bị viêm phế quản mạn tính có ho và khạc đờm; Tổng thời gian ho khạc đờm trên 3 tháng trong 1 năm và bị ít nhất 2 năm; Ho lúc đầu đờm ít, sau nhiều lên, đờm quánh và dính; Về sau ho khan, không có đờm; Khó thở; Khó thở khi gắng sức như: khi đi bộ, lên cầu thang, mang xách vật nặng; Khó thở khi hít thở sâu. Có thể có những đợt viêm cấp kèm theo sốt.

Cách xử trí và dùng các biện pháp phục hồi chức năng

- Đối với người bị hen phế quản, cần điều trị hen phế quản: Cắt cơn hen nhẹ bằng các thuốc giãn phế quản, thuốc kháng sinh, long đờm và các thuốc chống dị ứng. Nếu bệnh nhân không đỡ, cần chuyển lên các cơ sở y tế tuyến trên. Để chặn cơn hen, có thể điều trị theo phương pháp giải mẫn cảm với chất gây dị ứng; sử dụng thuốc xịt chặn cơn (Intal), mỗi ngày xịt 2 - 3 lần, liên tục trong 3 tháng, nghỉ 6 tháng lại tiếp tục, kéo dài trong 3 năm.

- Đối với người bị viêm phế quản mạn tính: Dùng các thuốc long đờm, chống phù nề niêm mạc phế quản, kháng sinh, chống co thắt phế quản; Thuốc giãn phế quản; Điều trị triệu chứng kèm theo. Gửi lên tuyến trên khi viêm phế quản mạn tính có suy hô hấp, tâm phế mạn tính để điều trị dị ứng và cắt cơn khó thở.

Ứng dụng Phương pháp vật lý trị liệu để Phục hồi chức năng cho người bị hen phế quản và viêm phế quản mạn tính

Tập thở để duy trì chức năng hô hấp: tập thở có tác dụng giãn nở các thùy phổi, tập thở cơ hoành. Mỗi động tác nên làm 20 - 30 lần vào các buổi sáng.

Đặt hai tay lên vùng phổi mong muốn được giãn nở. Yêu cầu người bệnh hít sâu một cách đặc biệt để khiến hai tay được di động nhịp nhàng theo nhịp thở.

Phục hồi chức năng hô hấp bằng các kỹ thuật vỗ rung lồng ngực, ho có trợ giúp, dẫn lưu tư thế khi có hen phế quản hoặc đợt viêm phế quản, có nhiều dịch tiết, đờm dãi.

Bành trướng thùy dưới, bành trướng thùy trên; Thở cơ hoành phục hồi chức năng bệnh phổi mạn tính.

Kỹ thuật dẫn lưu tư thế: Một đầu giường kê cao 20cm; để người bệnh nằm ngửa, đầu thấp, nằm nghiêng bên hoặc nằm sấp tùy theo vị trí cần dẫn lưu. Để họ nằm trong 15 - 30 phút.

* Chú ý: nếu người bệnh có cao huyết áp hoặc suy tim thì không được làm dẫn lưu tư thế.

Kỹ thuật vỗ rung lồng ngực:  trong lúc dẫn lưu tư thế, người bệnh ngồi dậy hoặc nằm, dùng hai bàn tay khum khum, vỗ nhịp nhàng, đều đặn vào lồng ngực người bệnh. Vỗ rung khiến dịch tiết ở lòng phế nang và phế quản long ra và dễ khạc ra ngoài.

Tăng cường vận động cơ thể: tập thể dục, đi bộ, bơi lội để cải thiện hoạt động tim mạch và hô hấp khi chưa có suy tim và suy hô hấp.


Viêm phế quản là một bệnh phổ biến ở nước ta. Bệnh hay gặp ở trẻ em, người cao tuổi và những người nghiện thuốc lá, thuốc lào. Ngoài việc dùng thuốc thì thực phẩm cũng hỗ trợ rất hiệu quả để nâng cao sức đề kháng và chóng khỏi bệnh. Dưới đây là một số món ăn bài thuốc có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh viêm phế quản.

Bài 1: trai khô 25g, thịt gà 50g, rượu vừa đủ, nấm mèo 50g, gạo 100g, gia vị vừa đủ; gừng, hành, muối, tiêu bột. Trai khô cho vào bát với rượu cùng thịt gà cho vào vỉ hấp chín. Gạo vo sạch cho vào nồi. Nấm rửa sạch cắt nhỏ. Tất cả cho vào nồi với 1,5 lít nước nấu cháo, cháo chín cho gia vị vào quấy đều là được, chia ăn 2 lần trong ngày

Bài 2: chim sẻ 2 con, phổi lợn 1 cái. Chim sẻ làm sạch lông, bỏ nội tạng rửa sạch cho cùng phổi lợn với nước đun sôi, nấu chín. Ngày ăn 1 lần.

Bài 3: Nước táo cam thảo: táo ngọt 8 quả, cam thảo tươi 6g. Tất cả rửa sạch cho vào nồi, đổ 800ml nước đun nhỏ lửa còn 400ml, vớt bỏ bã. Ăn táo uống nước.

Bài 4: phật thủ 30g, đổ nước vừa đủ đun sôi chắt lấy 200ml nước, hòa 20ml mật ong uống thay trà.

Bài 5: củ cải đỏ 300g rửa sạch thái lát cho vào bát đổ 50g đường mạch nha vào dể 1 đêm, chắt lấy nước củ cải uống nhiều lần trong ngày, mỗi ngày 1 thang.

Bài 6: củ cải 250g, ngó sen tươi 250g, lê 2 quả rửa sạch thái nhỏ. Tất cả giã nhỏ dùng vải màn sạch vắt lấy nước cho mật ong vào trộn đều, chia uống hết trong ngày.

Bài 7: hạnh đào 50g đem đốt tồn tính, nghiền nhỏ, cho đường trắng vào, pha nước sôi uống trước khi đi ngủ, uống liền 7 ngày.

Bài 8: hải đới (rong biển) 500g, gừng 45g, đường đỏ đủ dùng, cho vào 1 lít nước sắc còn 450ml. Mỗi lần uống 15ml, ngày uống 3 lần, uống liền 10 ngày là một liệu trình.

Bài 9: tỏi 250g bóc vỏ giã nát cho 90g đường đỏ và 250g giấm vào ngâm 1 tuần. Mỗi lần uống 1 thìa canh, ngày 3 lần.


Viêm phế quản là một bệnh thường gặp ở người trong mùa lạnh, đặc biệt là trẻ em và người cao tuổi. Trong Đông y, ngoài việc dùng thuốc thì thực phẩm hỗ trợ cũng rất hiệu quả để nâng cao sức đề kháng phòng chống bệnh do tiết trời lạnh, đặc biệt với người bệnh viêm phế quản mạn.

Cháo xa tiền tử: Xa tiền tử (hạt mã đề) 10-15g, gạo lức 50g. Dùng vải bọc xa tiền cho vào nồi đất, cùng với 0,2 lít nước nấu còn 0,1 lít, bỏ túi thuốc, cho gạo lức đãi sạch vào thêm 0,4 lít nước nấu thành cháo loãng. Ngày 2 lần, ăn nóng.

Cháo tứ nhân: Bạch quả nhân 2g, cam hạnh nhân 2g, hạnh đào nhân 5g, lạc nhân 5g, trứng gà 1 quả. Cả bốn vị đều cùng nghiền vụn, cho trứng gà nấu vừa một bát. Ăn vào buổi sáng hàng ngày, dùng liên tục trong nửa năm.

Cháo gừng tươi, sơn trà: Lá sơn trà 15g, gừng tươi 15g, gạo lức 100g, dầu ăn, muối vừa đủ. Gừng tươi cắt lát, gạo lức đãi sạch, cho cùng lá sơn trà, với nước vừa đủ đun sôi, sau nhỏ lửa nấu cháo, khi chín cho dầu ăn, muối vừa đủ là được. Ngày 1 bát, chia ăn vài lần.

Cháo chim sáo: Chim sáo 1 con, gạo lức 100g. Chim sáo bỏ đầu, chân, lông, nội tạng, cắt miếng rồi cho vào nồi cùng gạo lức đãi sạch, nước vừa đủ nấu cháo, sau khi chín cho muối vừa đủ. Ngày 1 bát, chia ăn vài lần.

Cháo phổi lợn, nhân ý dĩ: Phổi lợn 500g, gạo lức 100g, nhân ý dĩ 50g. Phổi lợn rửa sạch, nước vừa đủ, rượu vang vừa đủ, nấu chín vớt ra, cắt quân cờ rồi cho vào nồi cùng gạo lức đãi sạch, nhân ý dĩ, hành, gừng tươi, muối vừa đủ, rượu vang vừa đủ, đầu tiên đun to lửa, đun sôi sau nhỏ lửa, gạo chín nhừ là được. Ngày 1 bát, chia vài lần, ăn thường xuyên có chuyển biến rõ.

Cháo châu ngọc nhị bảo: Sơn dược (củ mài) tươi 60g, nhân ý dĩ tươi 60g, mứt hồng 24g. Sơn dược, nhân ý dĩ giã thô, nấu chín nhừ, mứt hồng cắt vụn cho vào là được. Đây là loại cháo rất dễ sử dụng, có thể ăn tuỳ ý.

Cháo bí đao, nhân ý dĩ: Bí đao 20-30g, nhân ý dĩ 15-20g, gạo lức 100g. Bí đao rửa sạch, đổ nước nấu lấy nước bỏ bã, ý dĩ gạo lức đãi sạch, nước vừa phải nấu với nước bí đao, nấu cháo loãng. Ngày một bát chia ăn vài lần.

Cháo vỏ quýt: Vỏ quýt tươi 30g, gạo lức 50-100g. Vỏ quýt rửa sạch, nước vừa đủ nấu lấy nước, bỏ bã. Cho gạo lức đãi sạch nấu cháo loãng. Ngày 1 bát chia ăn vài lần. Người bệnh âm hư, ho khan hoặc ho khan không đờm, thổ huyết không nên dùng.

Cháo bạch tiền: Bạch tiền 50g, gạo lức 100g. Bạch tiền rửa sạch, cho 0,2 lít nước nấu còn 0,1 lít, bỏ bã lấy nước, cho gạo lức vào, thêm 0,8 lít nước nấu thành cháo đặc. Ngày 1 bát chia ăn vài lần. Người ho suyễn do thận khí ô hư và phế khí ô hư không nên dùng.

Cháo đình lịch tử (hạt đay): Hạt đình lịch ngọt 10g, gạo lức 100g. Hạt đình lịch bỏ tạp chất, sao nhỏ lửa đến khi dậy mùi thơm, để nguội, cho nước cô đặc, bỏ bã, cho gạo lức đãi sạch vào, thêm nước vừa đủ nấu chín. Ngày 1 bát chia vài lần. Người ho phế hư, tỳ hư, phù thũng không dùng.


Cao ô mai, mật ong

Ô mai 500 g, mật ong 1.000 g.

Ô mai bỏ tạp chất, rửa sạch, phơi khô. Sau đó vẩy nước sạch lên cho ô mai ướt đều, đập nát lấy phần thịt, dùng nước rửa sạch. Cho ô mai nhục vào nồi, đổ nước sôi vào ngâm 1 giờ.

Bắc nồi ô mai lên trên lửa nhỏ, đun 2 giờ, lọc lấy nước, làm như thế 3 lần rồi hợp nước ô mai của 3 lần lại với nhau. Cho nước ấy vào nồi, dùng lửa nhỏ đun đến khi đặc lại thì cho mật ong vào, trộn đều, cô lại thành cao, để nguội cho vào lọ sạch, bảo quản nơi khô ráo.

Mỗi ngày uống vào lúc bụng đói. Buổi sáng, tối, mỗi lần 1-2 muỗng cà phê.

Thích hợp với các chứng ho lâu ngày, hư nhiệt phiền khát, sốt rét lâu ngày, đi tả kéo dài, kiết lỵ, đại tiện, tiểu ra máu, băng huyết, giun sán.

Chú ý người bị thực tà kỵ dùng.

Ô mai. Ảnh: myopera.

Ô mai kết hợp cùng mật ong thích hợp với các chứng ho lâu ngày, hư nhiệt phiền khát, sốt rét lâu ngày, đi tả kéo dài. Ảnh: myopera.

Canh thịt heo, khoai mài

Khoai mài 100 g, thịt heo 250 g, sữa bò 200 ml, gừng tươi xắt sợi 15 g, muối 5 g, dầu ăn, bột ngọt.

Thịt heo rửa sạch, xắt miếng vừa ăn, cùng cho vào nồi với gừng, khoai mài (đã rửa sạch, cắt vụn), đổ nước nấu sôi trên lửa lớn rồi đổi lửa nhỏ nấu trong 1 giờ, cho thêm muối, dầu ăn, bột ngọt vào nồi, đun nhỏ lửa đến khi chín rục thì cho thêm sữa bò vào, nấu sôi lại là được. Dùng riêng hoặc ăn với cơm đều được.

Thích hợp với người viêm phế quản mãn tính, ho lâu ngày, tiêu khát, di tinh, tiểu tiện nhiều lần. Chú ý người bị thực tà cấm dùng.

Cháo bách hợp, đường phèn

Bách hợp 50 g, gạo tẻ 100 g, đường phèn 80 g.

Bách hợp, gạo tẻ vo đãi sạch, cho vào nồi với nước vừa lượng, nấu trên lửa lớn cho sôi, bỏ đường phèn vào rồi dùng lửa nhỏ nấu thành cháo. Ăn sáng chiều tùy ý.

Thích hợp với người cao tuổi bị viêm khí quản mãn tính, phế nhiệt hoặc phế táo ho khan, nước mắt chảy nhiều, nhiệt bệnh chưa tiêu hết (dư nhiệt), tinh thần hoảng loạn, nằm ngồi không yên, thần kinh suy nhược, phổi kết hạch.

Chú ý người bị phong hàn đàm thấp, trúng hàn, không nên dùng.

Cháo phổi heo, bách hợp

Phổi heo 1 cái, bách hợp 20 g, hạnh nhân 25 g, táo đỏ 6 quả, muối, bột ngọt.

Phổi heo rửa nước 2-3 lần, cho vào nồi nước vừa lượng, nấu sôi trên lửa lớn rồi vớt ra, dội qua nước nguội vắt sạch nước để ráo xắt thành miếng nhỏ.

Bách hợp, hạnh nhân, táo đỏ rửa sạch. Đem phổi heo, bách hội, hạnh nhân, táo đỏ cho vào nồi thêm nước vừa lượng nấu trên lửa lớn cho sôi rồi đổi lửa nhỏ nấu thêm khoảng 2 giờ, nêm muối, bột ngọt vừa ăn.

Ăn riêng hoặc trong bữa ăn đều được. Thích hợp với người cao tuổi bị viêm khí quản mãn tính, phế nhiệt hoặc phế táo ho khan, ho ra máu.

Cháo mướp hương

Mướp hương (mướp ngọt) 100 g, gạo tẻ 250 g, mỡ heo chín 10 g, muối ăn 3 g.

Mướp hương bỏ vỏ, rửa sạch, xắt miếng dài. Gạo tẻ đãi sạch, cho vào nồi với nước vừa lượng, nấu trên lửa lớn cho sôi rồi đổi lửa nhỏ nấu đến khi cháo chín thì cho mướp hương, mỡ heo muối ăn vào, nấu sôi khoảng 6-8 phút nữa là được.

Ăn sáng, tối mỗi ngày. Thích hợp với người bị viêm phế quản mãn tính, ho khan, phiền phát, đàm suyễn ho hen, sản phụ sữa không thông.

Chú ý, người bị dương nuy (rối loạn cương dương) cấm dùng.

Cháo bí đao, thịt heo

Bí đao 500 g, gạo tẻ 100 g, thịt thăn heo 150 g, bột gừng 10 g, dầu mè, muối 5 g, bột ngọt 2 g.
Bí đao gọt vỏ, xắt thành miếng vuông khoảng 0,7 cm. Thịt heo rửa sạch đem luộc chín xắt thành miếng nhỏ. Gạo tẻ vo sạch để ráo nước

Bắc chảo lên lửa nóng, cho dầu mè vào nấu nóng rồi bỏ bí đao vào xào cùng với thịt heo. Nấu gạo tẻ với lượng nước vừa đủ, sau khi sôi thì cho thịt heo, bí đao vào, giảm nhỏ lửa nấu thành cháo, nêm muối bột ngọt, bột gừng vào là xong.

Ăn vào bữa trưa, tối mỗi ngày. Công dụng thanh nhiệt tiêu thử lợi tiểu khử thấp đàm, tiêu thũng. Thích hợp trị liệu các chứng ho suyễn, đàm nhiều, tiêu khát, sốt, thủy thũng, tiểu tiện khó, tiểu ra máu.

Chú ý, người bị hư hàn thận lạnh, tiêu chảy lâu ngày thì không nên dùng
Ý dĩ, hạnh nhân nấu trứng gà

Trứng gà 4 cái, rau diếp cá tươi 60g, ý dĩ mễ 90g, hạnh nhân ngọt 30g, táo đỏ 12 trái, mật đường vừa đủ.

Trứng gà đập vào tô, cho mật đường vào, dùng đũa khuấy đều. Rau diếp cá bỏ tạp chất, rửa sạch. Cho hạnh nhân, ý dĩ, táo đỏ vào nồi với nước vừa lượng, dùng lửa lớn nấu sôi rồi đổi lửa nhỏ nấu 1 tiếng, sau đó cho rau diếp cá vào nấu thêm 15 phút nữa.

Lọc lấy nước, đổ vào tô trứng gà, mật đường quấy đều để dùng. Chia ăn hai lần sáng tối mỗi ngày.
Công hiệu thanh phế nhiệt, dưỡng phế âm. Thích hợp chữa trị các chứng ho ra máu lâu ngày không khỏi, tâm phiền, khát nước, khô họng, ra mồ hôi trộm, thân thể gầy ốm.

Thường dùng chữa trị các chứng loét phổi, phổi kết hạch, phế khí thủng, giãn phế quản, viêm phế quản mãn tính, phế bệnh do đàm nhiệt gây nên.

Cháo mướp hương nấu tôm

Mướp hương 500 g, gạo tẻ 100 g, tôm đất 100 g, dầu ăn hoặc mỡ heo 20 g, bột gừng 10 g, muối 5 g, bột ngọt 2 g.

Mướp hương gọt vỏ rửa sạch, xắt miếng vuông nhỏ 1cm. Tôm rửa sạch, bóc vỏ, bỏ đầu. Gạo tẻ vo sạch, cho vào nồi với lượng nước vừa đủ, nấu trên lửa lớn cho sôi, đợi gạo nở thì cho mướp hương, tôm, mỡ heo, muối, vào nấu chín thành cháo, nêm bột ngọt, bột gừng vào là được.

Ăn sáng chiều mỗi ngày. Công hiệu: sinh tân chỉ khát, giải thử trừ phiền, hóa đàm dứt ho. Thích hợp cho người bị viêm phế quản mãn tính, có các chứng khô khát, phiền táo, đàm suyễn, ho lâu ngày.

Thích hợp cho người bị viêm phế quản mãn tính, có các chứng khô khát, phiền táo, đàm suyễn, ho lâu ngày.

Mướp hương nấu tôm thích hợp cho người bị viêm phế quản mãn tính, có các chứng khô khát, phiền táo, đàm suyễn, ho lâu ngày.

Bách hợp, hạt sen nấu trứng gà

Bách hợp 50 g, hạt sen 50 g, thịt heo nạc 50 g, trứng gà 3 cái, đường phèn 30 g.

Bách hợp, hạt sen dùng nước rửa sạch, hạt sen bỏ vỏ, lấy tim, dùng vải bọc lại. Trứng gà rửa sạch cho vào nồi luộc chín vớt ra, lột bỏ vỏ. Thịt heo rửa sạch, xắt lát thật mỏng.

Cho toàn bộ nguyên liệu trên vào nồi, đổ nước vừa đủ, dùng lửa nhỏ hầm khoảng 60-80 phút là được.
Ăn sáng 1 lần, tối 1 lần tùy lượng. Công hiệu: nhuận phế chỉ khái, dưỡng tâm an thần, có tác dụng trị liệu nhất định đối với các chứng phiền táo bất an, dư nhiệt chưa hết sau khi nhiệt bệnh dẫn đến hư phiền hoảng loạn, phế lao sinh ho, đàm có huyết, tiếng bị vỡ, tinh thần hốt hoảng, cước khí phù thũng.

Bột gạo lứt, khoai mài, hạnh nhân

Khoai mài 500 g, gạo lứt 150 g, hạnh nhân 100 g, dầu mè 1 ít.

Khoai mài bỏ vỏ, xắt lát, cho vào nồi nấu chín, lấy ra. Gạo lứt đãi sạch, cho vào nồi sao thơm, để nguội, nghiền thành bột. Hạnh nhân rửa sạch, sao chín, bỏ vỏ và đầu nhọn, xắt vụn.

Đem 3 loại trên trộn chung. Khi ăn lấy hỗn hợp 3 vị trên vừa lượng, cho vào tô, có thể thêm dầu mè để ăn, mỗi lần 10g. Ăn lúc bụng đói, với nước sôi để nguội.

Công hiệu: bổ trung ích khí, ôn trung bổ phế. Thích hợp người bị phế hư, ho lâu ngày, tâm phiền khó ngủ, viêm khí quản mạn tính. Người bị đi cầu lỏng, tiêu chảy, không nên dùng; khi dùng không nên quá lượng.


Cách phòng các bệnh về hô hấp như viêm họng, viêm phế quản cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ

Để hạn chế trẻ mắc bệnh hô hấp, nhất là bệnh viêm phổi, viêm phế quản thì cần hạn chế trẻ dùng nước mát, nước đá, hoa quả và các thực phẩm chế biến sẵn để trong tủ lạnh. Về việc này, các bậc phụ huynh cần kiểm soát được hành vi sử dụng của trẻ, nhất là các trẻ lớn.
Khí hậu nóng bức, khó chịu và dễ gây nhiều bệnh ngoài da cho trẻ em như rôm sảy, mụn nhọt, viêm da, dị ứng da… Do vậy, các bậc cha mẹ đã chuẩn bị rất nhiều thực phẩm cũng như làm nhiều việc để trẻ giải nhiệt trong ngày hè như sử dụng điều hòa, quạt điện, cho trẻ đi bơi, ăn kem, ăn chè lạnh. Tuy nhiên, giống như con dao hai lưỡi, những việc làm này của phụ huynh nếu không đúng mực hoặc không dừng đúng lúc sẽ dễ khiến trẻ mắc một số bệnh về đường hô hấp.

Những nguy cơ gây mắc bệnh viêm phế quản cần cảnh giác:

Đồ ăn lạnh: Mùa hè là mùa nóng nực, vì vậy, một số sinh hoạt trong cuộc sống hàng ngày có nhiều thay đổi so với các mùa khác trong năm. Điều đáng quan tâm là thói quen trong sinh hoạt ăn, uống đồ lạnh như dùng nước đá trong các cốc nước giải khát như nước cam, chanh hoặc luôn luôn dùng nước mát lạnh mỗi khi khát nước, tắm, sử dụng quạt gió cũng như máy điều hòa nhiệt độ.

Nhiều gia đình vào mùa hè luôn chuẩn bị sẵn các loại quả hoặc các loại chè (chè lam, chè đỗ đen…) để sẵn trong tủ lạnh để cho trẻ ăn mỗi lúc trẻ có nhu cầu. Nếu trẻ dùng đồ ăn, nước uống lạnh liên tục trong nhiều ngày thì rất có thể làm cho trẻ khó thích nghi và đặc biệt các bộ phận rất nhạy cảm ở họng, miệng, hầu, thanh quản cũng như các bộ phận khác của đường hô hấp dưới cũng bị tổn thương. Biểu hiện của sự nhiễm lạnh là viêm họng, hầu hoặc viêm thanh quản hoặc viêm amiđan, viêm VA. Và từ các bệnh này, trẻ sẽ bị viêm phổi từ mức độ nhẹ đến mức độ nặng nếu không phát hiện kịp thời.

Sử dụng máy điều hòa không đúng cách là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh viêm phế quản
Thói quen trong mùa hè của hầu hết bậc phụ huynh và được trẻ rất hưởng ứng là sử dụng điều hòa. Nếu sử dụng máy điều hòa mà nhiệt độ quá chênh lệch giữa nhiệt độ ngoài trời và nhiệt độ trong phòng thì sẽ không thích hợp với sức khỏe của trẻ do trẻ khó thích nghi (ngay cả người lớn cũng bị ảnh hưởng).

Qua nghiên cứu cho thấy nếu trẻ ở trong phòng có máy điều hòa nhiệt độ liên tục trên 4 giờ thì da, họng hầu, đường hô hấp của trẻ sẽ bị khô và rất dễ để các loại vi sinh vật tấn công, nhất là các loại vi khuẩn đã có sẵn ở đường hô hấp trên của trẻ như H. influenzae, phế cầu… Nếu cho trẻ ra vào phòng điều hòa liên tục nhiều lần trong một khoảng thời gian nhất định thì trẻ cũng dễ bị cảm lạnh do thay đổi nhiệt độ một cách đột ngột quá mức, nhất là đang lạnh đột ngột lại bị nóng làm xuất hiện viêm đường hô hấp trên, thậm chí cả viêm phổi cấp tính.

Cho trẻ tắm quá lâu cũng là nguyên nhân gây bệnh

Trời nóng nực cho nên trẻ thường được tắm, thậm chí tắm nhiều lần trong ngày, đặc biệt là khi trẻ được đi tắm biển. Nếu tắm nhiều lần trong ngày hoặc ngâm mình dưới nước biển với thời gian lâu thì trẻ cũng rất dễ bị cảm lạnh gây viêm họng, viêm amiđan hoặc nặng hơn là viêm phổi. Nếu không phát hiện kịp thời và có biện pháp xử trí thích đáng thì bệnh tình của trẻ sẽ nặng thêm mà biểu hiện là thân nhiệt tăng cao, ho cũng tăng lên, li bì, khó thở nhiều, liên tục.

Nếu trẻ còn bú mẹ sẽ xuất hiện tình trạng trẻ bú ít hoặc bỏ bú. Tình trạng viêm hô hấp nặng lên khi trẻ có các dấu hiệu môi tím, các kẽ liên sườn bị co kéo, môi và các đầu ngón tay, ngón chân bị tím lại. Trẻ bị viêm phổi cũng có thể kèm theo triệu chứng tiêu chảy. Vì vậy, khi có các dấu hiệu sốt, ho, khó thở, tím tái và có tiêu chảy thì chớ hiểu lầm là trẻ không phải bị viêm phổi, đặc biệt quan tâm là trẻ nhỏ dưới 12 tháng tuổi. Một điều cần lưu ý là trẻ càng nhỏ tuổi khi bị cảm lạnh gây viêm đường hô hấp thì phụ huynh rất khó để nhận biết.
trẻ sơ sinh bị viêm phế quản phổi 4

Đối phó thế nào?

Để hạn chế trẻ mắc bệnh hô hấp, nhất là bệnh viêm phế quản thì cần hạn chế trẻ dùng nước mát, nước đá, hoa quả và các thực phẩm chế biến sẵn để trong tủ lạnh. Về việc này, các bậc phụ huynh cần kiểm soát được hành vi sử dụng của trẻ, nhất là các trẻ lớn.

Mỗi khi sử dụng máy điều hòa nhiệt độ, nên có sự điều chỉnh nhiệt độ hợp lý (chênh lệch nhiệt độ trong phòng và ngoài trời khoảng 2 – 3 độ là vừa). Không nên để gió của máy điều hòa quạt thẳng vào cơ thể trẻ. Ngoài giờ trẻ ngủ thì không nên để trẻ trong phòng máy điều hòa nhiệt độ quá nhiều giờ trong một ngày bởi vì trẻ sẽ bị cảm lạnh và rất có thể bị thiếu ánh sáng mặt trời làm cho trẻ dễ bị còi xương.

Mùa hè, không nên mặc quần áo quá dày hoặc quấn tã lót chặt làm cho trẻ dễ bị cảm lạnh do quần áo hoặc tã lót thấm mồ hôi làm cho trẻ cảm lạnh. Khi trẻ chơi hoặc trẻ ngủ, không nên cho quạt quạt xoáy vào trẻ và chỉ nên dùng tốc độ của quạt ở mức độ thấp hoặc trung bình.

Trong phòng trẻ chơi hoặc trẻ ngủ, không được có khói thuốc lá hoặc khói bếp (bếp dầu, bếp củi, rơm rạ, bếp than). Mặc dù là mùa nắng nóng nhưng khi tắm cho trẻ, nhất là trẻ dưới 5 tuổi, nên dùng nước ấm là tốt nhất và không nên cho trẻ tắm nước lạnh. Khi trẻ có biểu hiện viêm đường hô hấp trên như ho, hắt xì hơi, chảy nước mũi hoặc có kèm theo sốt thì cần nhanh chóng cho trẻ đến cơ sở y tế gần nhất để khám bệnh, không nên chần chừ làm bệnh của trẻ nặng thêm gây khó khăn cho việc xử trí khi được khám bệnh.

Bé bị viêm phế quản – Cha mẹ phải làm gì?

(Mẹ bé Bông): Bông nhà mình sốt hai ngày, uống kháng sinh theo đơn bác sĩ nói viêm họng cấp, uống đến ngày thứ 3 bắt đầu ho rất nhiều, tiếng ho sâu, có đờm. Ngày thứ 4 ho sâu, mình chú ý lắng nghe sau lưng có tiếng thở khò khè hay không thì chỉ có tiếng dịch mũi của bé ( bé sổ mũi nước mũi trong hơi đặc).

Kiên trì cho con theo toa kháng sinh của bác sĩ, đến một tuần sau thì đỡ ho – chỉ đỡ thôi, bác sĩ nói mình cho bé uống Bạch Long thuỷ, thì thấy con cũng giảm ho, nhưng tiếng thở khò khè thì chưa bao giờ rõ hơn thế. Bé nằm ngủ mình áp tai vào lưng, thấy khò khè lắm.
Có phải là đờm không hả các mẹ? Hay bé đã bị viêm phế quản? Bé không sốt, giảm ho, nhưng người mệt và chán ăn. Mình rất stress vì con thời gian này ốm triền miên. Mong các mẹ có kinh nghiệm cho lời khuyên với. Có phải bé bị viêm phế quản? Cách chăm sóc bé giai đoạn này thế nào?

Trẻ sơ sinh bị viêm phế quản phổi 5
(Mẹ bé Chíp): Bé giảm ho mà bạn vẫn nghe rõ tiếng khò khè ở lưng thì bị viêm phế quản phổi rồi. Bé nhà mình lúc trước cũng bị tình trạng như vậy, hết ho nhưng mình đặt tay vào sau lưng vẫn nghe rõ tiếng khò khè, BS nói còn rất nhiều đờm và vẫn phải cho uống kháng sinh và thốc long đàm tiếp, đợt đó bé nhà mình uống gần 20 ngày kháng sinh. Mình cũng Strees luôn sau đợt bé nhà mình bị viêm phế quản phổi đó.

Bạn nên cho con đi chụp phim phổi và khám bác sĩ lại đi, bệnh này để lâu sẽ nặng hơn và rất dễ tái đi tái lại( BS nói vậy), bạn nhớ giữ ấm cho con nhé.

Mẹ bé Bin tư vấn cách chăm sóc trẻ giúp trẻ không mắc bệnh viêm phế quản:

Em thấy bọn trẻ nhà chúng mình rất dễ bị mắc phải những bệnh về đường hô hấp như ho, chảy nước mũi hay viêm phế quản, mà những lúc bệnh bọn trẻ quấy kinh khủng, vừa thương vừa tức.

Theo em cách tốt nhất tránh bệnh về đường hô hấp cho các bé là giữ ấm thật tốt cho các bé nhất là thời tiết giao mùa như hiện nay. Nhà em có 2 đứa đi đâu em cũng bắt quàng khăn, bịt mặt và đi găng, hiệu quả lắm nhé, thứ nhất là bảo vệ được làn da mỏng manh nhạy cảm của các con, thứ nhì là tranh lây bệnh qua đường hô hấp, tránh được khí thải và khí ô nhiễm. Làm như vậy cũng tránh được gió, các con mình sẽ không bị chảy nước mũi nữa. Người ta nói phòng bệnh hơn chữa bệnh mà, thế nên nhiều khi bị mẹ chồng nói là “cẩn thận không cần thiết” em vẫn làm vậy, em nghĩ miễn tốt cho con mình thôi, các chị nhỉ.

(Mẹ bé Ốc): Đứa đầu nhà mình bị suốt từ hồi 10 tháng tới tận 2 tuổi mới hết. Nghe nói nếu nạo VA cho trẻ thì sẽ bớt nhưng mình sợ con đau. Bé nhà mình từ lần đầu đã đi khám, bác sĩ cho toàn thuốc ngoại, nên sau đó bị lại, mình dùng thuốc nội k ăn thua, cứ thấy uống kháng sinh hoài.

Hồi được 20 tháng, con mình bị sổ mũi rất nhiều, kèm ho, mình cho đi khám, thì bác sĩ có nói 1 phần nguyên nhân cũng có thể là do bị giun, nên tẩy giun rồi cho uống thuốc mà không đỡ. Sau đó mình cho ra khám Tai Mũi Họng nội soi ở Thái Thịnh, thuốc bác sỹ kê cũng khá nặng và nhiều loại, nhưng quan trọng là có dịch vụ hút mũi, nên bé nhà mình khỏi từ đó tới giờ.

(Mẹ Candy): Chào các mẹ. Con em hay bị viêm phế quản nhưng thường thì sau khi uống kháng sinh sẽ chỉ mất khoảng nửa ngày là hết sốt. Nhưng lần này con uống kháng sinh (sau khi đi khám bác sỹ tư) từ hôm qua mà vẫn sốt khoảng 38.5 độ cả tối, cả đêm và từ sáng đến giờ, chỉ hạ một lúc mỗi khi uống hạ sốt. Em lo là thuốc kháng sinh không hiệu quả. Không biết các bé khác nếu bị viêm phế quản thì sẽ còn sốt bao lâu sau khi uống kháng sinh, có sốt liên tục không hay chỉ từng cơn? Em rất mong thông tin từ các mẹ để quyết định hoặc cho con đi bệnh viện khám và làm các xét nghiệm ngay chiều nay, hoặc cố gắng chờ đợi đến mai xem có đỡ không. Em sốt ruột quá chỉ sợ làm sao. Em cảm ơn các mẹ nhiều lắm.

Mẹ bé Nghé tư vấn:

Bé bị viêm phế quản tùy vào mức độ nặng nhẹ như viêm cấp hoặc là viêm hen, mà bác sĩ cho dùng kháng sinh theo liều tương đối, nhưng tối thiểu là phải được 5 ngày điều trị thì mới bắt đầu thấy kết quả của thuốc. Bên cạnh đó mẹ cần cho trẻ uống nhiều nước, vỗ lưng ngày 2 lần mỗi lần 15 phút, buổi tối ngủ đeo yếm cho bé. Đặc biệt là lót khăn sữa (xô) vào lưng bé cho hút ẩm đừng để lưng bé đổ mồ hôi ra ẩm vì đây là nguyên nhân chính gây cho bé triệu chứng viêm phế quản (thăm chừng thấy khăn ẩm thì thay mới mẹ nhé), cuối cùng xoa dầu vào lòng bàn chân chà cho ấm lên rồi mang vớ vào cho bé.

Mẹ Candy theo những bước này mình xin bảo đảm có kết quả như ý. Đối với 1 số trẻ nhỏ khi kháng thể thấp, lúc dùng kháng sinh trong quá trình điều trị bệnh viêm phế quản sẽ kèm tác dụng phụ là tiêu chảy.

(Mẹ Hồng Yến): Bé nhà mình hôm nay đi khám lại, bác sĩ nói bé khỏi rồi mừng quá các mẹ ơi. Cả chục ngày trời ăn không ngon ngủ không yên vì con bị viêm phế quản, mỗi lần nghe con ho là mẹ lại thắt cả ruột gan các mẹ ạ.

Nhân đây mình xin chia sẻ kinh nghiệm để các mẹ có con bị viêm phế quản đừng quá lo lắng nhé Khi bắt đầu uống thuốc bé hay nôn và nôn ra khá nhiều đờm, sau 2 ngày uống thuốc bé ho nhiều hơn và bị sốt, khi bé sốt mình lấy khăn nhúng nước ấm vắt khô rồi chườm trán và hai bên háng bé, mặc quần áo thoáng mát, khoảng nửa ngày thì bé hạ sốt, mình lại đưa bé đi khám thì bác sĩ bảo con nôn ra được đờm là rất tốt mẹ có thể kích thích cho con nôn ra được càng nhiều càng tốt (rửa sạch tay cho 1 ngón tay vào gần cuống lưỡi bé để kích thích) con nôn được đờm sẽ bớt ho.

Và việc con ho nhiều hơn sau 1, 2 ngày đầu uống thuốc cũng là biểu hiện tốt vì lúc này cơ thể đang phản ứng chống lại vi khuẩn nên con có triệu chứng ho nhiều hơn sau đó sẽ giảm dần. Ngoài ra các mẹ cũng đừng sợ con lạnh mà mặc quá nhiều qần áo cho con, tốt nhất cứ mặc quần áo thoáng mát và giữ ấm cổ cho con là được.

iBooks

{picture#https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgcBwWUu0GEmJ_BjHLMUkWX6s_cBX7cUDMlXXysNtcfK60TcUt2BI1hXzkAEov3Q4YIP3Tw3tcd6PuzUSC_p-N1yfS78EFZuHuEWH-yTs4ALA6fl0Gujwp8d6lC5hU4rVPAD83FUHDDsb72/s1600/nguyen-duy-giang.png} DỰ ÁN CHIA SẺ SÁCH {facebook#https://www.facebook.com/ernestonguyengiang} {twitter#https://twitter.com/duygiangnguyen} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#https://www.pinterest.com/nguyenduygiang/} {youtube#https://youtube.com/nguyenduygiang} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}
Được tạo bởi Blogger.