Ngừa hen phế quản ở thai phụ


Cơn hen phế quản, cả với người bình thường và phụ nữ có thai, thường được kiểm soát tốt và nhìn chung, bệnh nhân có thể “sống chung với lũ”. Nhưng trong một số tình huống đặc biệt, ví như khi gắng sức quá nhiều, cơn hen phế quản có thể bùng phát một cách dữ dội đột ngột gây nên suy hô hấp nguy kịch, thậm chí có thể gây đột tử.
Hen phế quản (HPQ) có lẽ là một trong những vấn đề nan giải nhất hay gặp ở phụ nữ có thai với tần suất mắc vào khoảng  4 - 8% số thai phụ. Tiên lượng HPQ ở thai phụ thường tốt đối với những thể nhẹ hoặc trung bình được kiểm soát chặt chẽ và điều trị đầy đủ. Đối với thể nặng hoặc đáp ứng điều trị kém, HPQ thường để lại nhiều hậu quả cho cả mẹ và con như tiền sản giật, sinh non, trẻ thiếu cân, thai nhi có dị tật, tăng nguy cơ tử vong cho cả mẹ và con.
Chẩn đoán hen phế quản ở thai phụ
Chẩn đoán HPQ ở thai phụ dựa vào tiền sử bệnh nhân có HPQ, các triệu chứng của cơn hen xuất hiện trong giai đoạn có thai như khó thở ở các mức độ khác nhau; nghe phổi có tiếng ran rít, ran ngáy chứng tỏ có tắc nghẽn đường hô hấp do co thắt, phù nề và tăng tiết. Xét nghiệm khí máu thấy có giảm nồng độ CO2 ở giai đoạn đầu và tăng CO2 ở giai đoạn tắc nghẽn nhiều. Nồng độ O2 cũng giảm nặng. Test xác định có sự giảm thông số FEV1 (Forced expiratory volume - thể tích thở ra tối đa giây) và tỷ số FEV1/ FVC (forced vital capacity - thể tích thở ra gắng sức) hoặc có sự cải thiện FEV1 sau khi khí dung albuterol từ 12% trở lên sẽ xác định chẩn đoán.

Cũng cần phân biệt HPQ với một số bệnh hoặc tình trạng hay gặp ở thời kỳ có thai như khó thở ở thai phụ, khó thở, ho do trào ngược; viêm phế quản; viêm thanh quản; phù phổi cấp; suy tim chu sản; tắc mạch phổi huyết khối...

Ảnh hưởng của cơn hen lên thai nghén
Nói chung, cơn HPQ mức độ nhẹ và trung bình ít ảnh hưởng đến thai phụ và thai nhi nếu được kiểm soát tốt ngay từ đầu. Nếu không được xử trí sớm, việc khó thở dẫn đến thiếu ôxy kéo dài sẽ gây ảnh hưởng đến thai nhi. Cơn HPQ mức độ nặng và nguy kịch đương nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến cả mẹ và con cả ở khía cạnh do thiếu ôxy máu và những tác dụng không mong muốn của thuốc điều trị hen cũng như các biện pháp can thiệp hỗ trợ hô hấp như phải đặt ống nội khí quản, thở máy. Vì vậy, ngay từ đầu, những phụ nữ có tiền sử bị HPQ phải được theo dõi hết sức chặt chẽ trong quá trình mang thai để tránh các đợt cấp của HPQ xảy ra.
Dự phòng được không?
Dự phòng bùng phát cơn HPQ ở thai phụ bao gồm các biện pháp: khám và làm các test về chức năng hô hấp trước khi có thai. Thai phụ phải được theo dõi thường xuyên trong suốt thai kỳ. Trường hợp có nguy cơ cao, thai phụ phải được dùng các loại thuốc dự phòng cơn hen như các thuốc giãn phế quản, corticoide dạng xịt hoặc uống theo đúng hướng dẫn của thầy thuốc chuyên khoa. Thai phụ cũng nên phòng tránh các yếu tố như các chất dị ứng, thuốc, khói bụi, nhiễm khuẩn đường hô hấp trên... có thể kích thích gây khởi phát cơn hen trong giai đoạn thai kỳ.
Điều trị hen phế quản ở thai phụ như thế nào?
Khi cơn hen đã xảy ra, việc đầu tiên là phải cung cấp đầy đủ lượng ôxy cho thai phụ để tránh tình trạng thiếu ôxy máu có thể ảnh hưởng đến thai nhi. Ôxy được cung cấp qua hệ thống máy tạo ôxy hoặc qua bình ôxy, hệ thống ôxy trung tâm tại các bệnh viện và bệnh nhân sẽ được thở ôxy qua gọng kính mũi hoặc qua mặt nạ. Phân áp và độ bão hòa ôxy máu phải được theo dõi thường xuyên qua monitor hoặc qua xét nghiệm khí máu. Các thuốc giãn phế quản như thuốc kích thích beta 2 giao cảm (ventolin, salbutamol), corticoide… cũng được dùng khá an toàn cho thai phụ thông qua con đường khí dung, dạng xịt, uống, tiêm dưới da hoặc truyền tĩnh mạch liên tục. Magne sulphate cũng có thể được dùng nhằm cả mục tiêu giãn phế quản và tránh gây co thắt tử cung. Việc bù đủ nước, điện giải, đảm bảo một chế độ dinh dưỡng đầy đủ cho thai phụ cũng góp phần cải thiện tình trạng khó thở khi cơn hen xảy ra. Can thiệp thủ thuật, hỗ trợ hô hấp bằng thở máy nên tránh trừ trường hợp bất khả kháng. Ngoài ra, có thể sử dụng máy vật lý trị liệu để hỗ trợ điều trị. Xem thông tin chi tiết tại website: www.savinaco.vn

Bài thuốc, món ăn trị viêm phế quản cấp tính


Hoa đu đủ đực hấp đường phèn, hoa khế tươi nấu gừng... là những bài thuốc đơn giản trị viêm phế quản cấp tính. 
Viêm phế quản cấp tính thường do một số nguyên nhân như nhiễm khuẩn gây viêm mũi, họng, khí quản, viêm hạch hạnh nhân, các xoang hàm mặt, dẫn đến viêm phế quản cấp, hoặc do bụi, khí độc gây ra.
Viêm phế quản cấp có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổi nào, nhưng ở tuổi trẻ nhiều hơn. Triệu chứng thường gặp là sốt vừa, kéo dài 3-4 ngày, ho có ít đàm, khó thở nhẹ, ít biến chứng, bệnh mau khỏi. Có thể xử trí bằng cách nghỉ ngơi, xoa ấm vùng ngực, xông mũi bằng nước xông nấu với lá tía tô, lá chanh, lá sả, ngải cứu…
Nếu ho ra đàm loãng, nhức đầu, nghẹt mũi, ngứa cổ, tiếng nói nặng, không ra mồ hôi, rêu lưỡi trắng mỏng, thì bệnh thuộc thể phong hàn, nên dùng bài thuốc Nam như sau:
Lá rau hẹ 12 g, lá tía tô 12 g, lá xương sông 12 g, kinh giới 12 g, gừng tươi 8 g. Tất cả rửa sạch, nấu với 500 ml nước, sắc còn 200 ml. 
Người lớn chia 2 lần, uống ấm, sau bữa ăn. Trẻ em tùy tuổi, chia 3-4 lần cho uống, sau bữa ăn.
Một số món ăn thức uống nên dùng:
- Dùng hoa đu đủ đực phơi khô 20 g, hấp với đường phèn 50 g, ăn lúc còn ấm.
Hoa đu đủ đực tốt cho bệnh nhân viêm phế quản cấp tính. Ảnh: quangbinh
- Dùng hoa khế tươi 30 g, gừng (sao) 10 g, nấu với 200 ml nước sôi 5 phút, để uống lúc còn ấm.
- Khế xắt miếng nhỏ 50 gnước cốt chanh 1,5 muỗng cà phêđường phèn 20 g, nước cốt gừng 1 muỗng cà phê. Hòa với 200 ml nước sôi, ngâm khoảng 5 phút, dùng ăn sau bữa cơm.
- Cải xoong 100-200 g, lá tía tô 50 g, gừng 2–3 lát. Nấu với 3 chén nước, sắc cô lại còn 1 chén, chia làm 3 lần, mỗi lần uống cách nhau 3 giờ, uống lúc còn nóng.
- Cháo gừng hành: Hành trắng 7 cây, gừng tươi 12 g, gạo nếp 60 g, giấm ăn 1 g, muối 3 g. Gừng gọt bỏ vỏ ngoài, dùng nước rửa sạch, xắt sợi nhỏ. Hành trắng rửa sạch xắt vụn. Gạo nếp đãi sạch cùng với gừng cho vào nồi, đổ nước vừa lượng, nấu trên lửa nhỏ thành cháo rồi cho hành vào nấu sôi, nêm muối, lát sau cho giấm vào là được.
- Tôm xào hẹ: Tôm sú hoặc tôm càng xanh 150 g, rau hẹ 100 g. Xào chín tôm với rau hẹ, dùng ăn trong bữa cơm (có thể xào rau hẹ hoặc bông hẹ với thịt nạc heo hay thịt bò).
- Cháo tôm sú, rau hẹ (hoặc hoa hẹ): Tôm sú 100 g, rau hẹ 50 g, hành tím 5 củ, hạt tiêu sọ 10 g, gạo tẻ 50 g, gia vị các loại.
Tôm làm sạch, ướp gia vị. Rau hẹ và hành rửa sạch, xắt nhỏ. Nấu gạo tẻ thành cháo. Khi cháo chín, cho tôm vào, đảo đều rồi cho hẹ, hành vào, quậy đều và nêm gia vị vừa ăn. Dùng ăn nóng vào lúc đói bụng.
Nếu ho khó khạc đàm, miệng khô, họng đau, sốt nhẹ, rêu lưỡi vàng mỏng, thì bệnh thuộc thể phong nhiệt, nên dùng bài thuốc Nam như sau:
Lá dâu tằm 12 g, rau má 12 g, bạc hà 10 g, hoa cúc 10 g, lá rau hẹ 10 g, lá chanh 8 g. Tất cả rửa sạch, nấu với 500 ml nước, sắc còn 200 ml. Người lớn chia 2 lần, uống ấm, sau bữa ăn. Trẻ em tùy tuổi, chia 3-4 lần cho uống, sau bữa ăn.
Một số món ăn thức uống nên dùng:
- Quả sung 30 g, đường phèn 50 g. Nấu với 200 ml nước, sắc còn 100 ml. Dùng uống ấm, sau bữa ăn.
Có thể dùng sung tươi 200 g, gọt vỏ, xắt lát mỏng, sắc kỹ lấy nước, cho thêm đường phèn 100 g, rồi cô nhỏ lửa thành dạng cao, dùng ngậm hàng ngày.
- Sung chín tươi 50-100 g, gọt bỏ vỏ, đem nấu với gạo 50-100 g thành cháo, chia ăn 2 lần trong ngày. Có thể cho thêm ít nho khô hoặc đường phèn cho dễ ăn.
- Lá cây cải cúc (tần ô) 50 g, rửa sạch, xắt nhỏ, thêm ít đường hay mật ong, hấp trong nồi cho ra nước, gạn lấy nước uống.
- Rau cải cúc 100 g, nấu canh với phổi heo 100 g. Mỗi ngày ăn 1 tô vào buổi sáng.
- Rau cải cúc tươi, lượng vừa đủ cho vào tô lớn, đổ cháo đang sôi lên trên để 5-10 phút cho bớt nóng thì trộn rau lên để ăn.
- Mướp tươi 500 g, khế 200 g, đường trắng lượng vừa đủ. Mướp gọt vỏ, khế rửa sạch, xắt vụn, ép lấy nước, hòa đường trắng, chia uống vài lần trong ngày.
- Mướp tươi 500 g, củ cải 200 g, đường trắng lượng vừa đủ. Mướp và củ cải gọt vỏ, xắt vụn, ép lấy nước, hòa đường trắng, dùng làm nước giải khát trong ngày.
- Mướp tươi 500 g, nước dừa 500 ml. Mướp gọt vỏ, rửa sạch, xắt miếng, ép lấy nước, hòa với nước dừa, dùng làm nước giải khát trong ngày.
- Mướp tươi 100 g, sữa bò tươi 500 ml. Mướp gọt vỏ rửa sạch, xắt vụn rồi ép lấy nước, hòa với sữa tươi, chia uống vài lần trong ngày.
Lưu ý, những người tỳ vị hư yếu, hay đau bụng, đại tiện phân lỏng hoặc nát thì không nên dùng các thức uống trên.
Mướp có thể kết hợp với nhiều thực phẩm thành các món ăn tốt cho đường hô hấp. Ảnh: quanghuy
- Thịt heo xào rau cần, giá đậu xanh.
 Thịt heo nạc 50 g, rau cần 100 g, giá 50 g, gừng 5 g, dầu ăn, nước tương (xì dầu) 10 g bột năng 20 g, trứng gà 1 quả.
Thịt nạc heo rửa sạch, cắt miếng; rau cần rửa sạch, cắt khúc; giá rửa sạch, bỏ rễ; gừng cắt lát; hành cắt khúc. Cho thịt nạc, trứng gà, bột năng, muối vào tô, đổ ít nước vào trộn đều. Để nồi nóng đổ dầu vào, chờ dầu nóng bỏ gừng, hành vào khử cho thơm, rồi đổ tô thịt heo đã trộn vào xào sơ, sau đó bỏ rau cần, giá vào xào chín là được. Mỗi ngày ăn hai lần.
- Củ cải trắng xào giấm.
Củ cải trắng 100 g, giấm 5 g, đường phèn 15 g, gừng 3 g, hành 10 g, muối một ít, dầu ăn lượng vừa đủ.
Củ cải trắng rửa sạch, cắt miếng. Đun chảo nóng, cho dầu ăn vào, đợi dầu nóng thì bỏ gừng, hành vào khử cho thơm, rồi cho tất cả nguyên liệu vào trộn đều, xào chín là được. Mỗi ngày ăn 1 lần.
- Củ cải trắng hầm mật ong:
Củ cải trắng một củ lớn nặng khoảng 500 g, mật ong 60 g.
Củ cải gọt vỏ, rửa sạch, xắt thành từng miếng nhỏ. Thố sành đem rửa sạch, cho miếng củ cải vào, đổ mật ong và 50 ml nước, đậy nắp thố lại đem chưng cách thủy trên lửa nhỏ, khoảng 1 giờ là dùng được. Ăn mỗi ngày, hoặc 2-3 ngày ăn 1 lần.
- Nước hạnh nhân, mạch môn đông (lan tiên):
Hạnh nhân 6 g, mạch môn đông 10 g.
Hạnh nhân bỏ đầu nhọn và tạp chất, cho vào nước sôi nấu qua, vớt ra ngâm vào nước lạnh bỏ vỏ. Mạch môn đông bỏ tạp chất, rửa sạch bỏ vào nồi với hạnh nhân và nước vừa lượng, dùng lửa lớn nấu sôi rồi đổi dùng lửa nhỏ nấu 15-20 phút, lọc bỏ xác lấy nước. Uống nước thay trà thường xuyên.
Hiện nay, chúng ta có thể điều trị bệnh viêm phế quản bằng cách kết hợp các bài thuốc với máy vật lý trị liệu. Xem thông tin chi tiết tại đây: www.savinaco.vn


Cách điều trị viêm phế quản cấp tính và mãn tính

Phế quản là những ống nhỏ dẫn khí vào trong buồng phổi. Viêm phế quản cấp tính là tình trạng nhiễm khuẩn nhanh & ngắn hạn ở các phế quản. Viêm phế quản cấp tính gây ra sưng & tăng tiết dịch (đàm) gây ra khó thở. Có thể có ho và thở khò khè do lượng dịch xuất tiết nhiều trong phế quản.

Viêm phế quản do virus tấn công

Nguyên nhân gây ra viêm phế quản cấp:
Viêm phế quản cấp thường xảy ra do nguyên nhân siêu vi (virus) tấn công vào lớp niêm mạc của phế quản. Những triệu chứng như sưng, tiết dịch là hậu quả của những phản ứng của cơ thể chống lại sự nhiễm khuẩn. Cần phải có thời gian để cơ thể giết chết siêu vi & làm lành các tổn thương ở phế quản.
Trong hầu hết các trường hợp, các virus thường gây ra cảm cúm cũng là nguyên nhân gây ra viêm phế quản. Những nhà nghiên cứu cho biết các viêm phế quản gây ra bởi vi khuẩn ít hơn nhiều so với những gì chúng ta nghĩ trước đây. Rất hiếm khi viêm phế quản cấp gây ra do nấm.
Bạn bị viêm phế quản như thế nào?
Virus gây ra viêm phế quản cấp bay lơ lững trong không khí hay dính vào tay của người đã bị nhiễm, ..., khi họ ho. Bạn có thể bị viêm phế quản cấp khi tiếp xúc với các virus (hít, tiếp xúc da trực tiếp với virus, ...).
Nếu bạn có hút thuốc hay môi trường xung quanh nhiều bụi bậm thì Bạn dễ bị viêm phế quản cấp hơn và bị kéo dài hơn. Điều này có thể do các phế quản đã bị tổn thương trước đó và nhiễm siêu vi lần này chỉ là nguyên nhân để bùng phát cơn viêm phế quản cấp.
Vấn đề điều trị:
Hầu hết các trường hợp viêm phế quản cấp đều tự khỏi sau vài ngày hoặc một tuần. Do hầu hết các viêm phế quản đều có nguyên nhân virus nên các kháng sinh không có vai trò điều trị ở đây. Ngay cả khi ho có đàm đặc & có màu đi chăng nữa, kháng sinh hầu như cũng không có tác dụng cải thiện bệnh nếu như nguyên nhân là virus.
Nếu Bạn hút thuốc, hãy ngưng thuốc lá hoặc chí ít là giảm thiểu lượng thuốc hít trong thời gian hồi phục viêm phế quản cấp.
Ở một số trường hợp, BS có thể kê toa các thuốc thường thấy trong điều trị hen suyển nhằm mục đích làm sạch đờm nhớt trong phế quản.
Triệu chứng ho trong viêm phế quản cấp kéo dài bao lâu?
Ho trong viêm phế quản cấp có thể kéo dài nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng. Ho kéo dài là do các phế quản chưa lành lặn. Tuy nhiên ho có thể là triệu chứng của bệnh lý khác như suyển hoặc viêm phổi.
Nên đi BS trong các trường hợp sau:
Ho, khò khè kéo dài hơn một tháng, đặc biệt nhiều hơn khi ngủ hay khi vận động nhiều
Ho hơn một tháng và ho khạc ra dịch đàm hôi.
Ho, mệt, sốt cao liên tục
Ho ra máu
Khó thở khi nằm
Sưng phù chân
Làm gì để tránh bị tái nhiễm viêm phế quản cấp?
Nếu Bạn hút thuốc thì đây là một lý do để bỏ thuốc. Hút thuốc gây ra tổn thương các cấu trúc phế quản và virus dễ dàng tấn công gây bệnh và làm cho vết thương ở phế quản lâu lành. Ngoài ra thường xuyên rửa tay để loại bỏ virus dính trên tay trong sinh hoạt hàng ngày.

Viêm phế quản mãn tính
Theo Hội thảo quốc tế tại Anh 1965, viêm phế quản mạn là ho khạc lâu ngày, ít nhất là 90 ngày trong một năm và đã kéo dài 2 năm liên tục, sau khi loại trừ các nguyên nhân khác (lao, apxe, giãn phế quản...)
- Có 3 loại chính: thể đơn thuần ho khạc đờm nhày; thể đờm mủ (hay mắc đi mắc lại); và thể khó thở.
Nguyên nhân chủ yếu là sự xâm nhập của vi khuẩn và sự suy giảm khả năng đề kháng của cơ thể
Yếu tố thuận lợi làm suy giảm sức chống đỡ của niêm mạc là khói thuốc lá và không khí ô nhiễm
Triệu chứng thay đổi khác nhau tùy từng giai đoạn:
- Mới bắt đầu là ho và khạc đờm: Ho xảy ra nhiều trong một năm, từng đợt, dễ xuất hiện khi trời lạnh hoặc thay đổi thời tiết, có thể ho khan nhưng thường ho có đờm màu trắng và có bọt. Khi ho lâu ngày, đờm đặc hơn, màu vàng và có mủ, khối lượng đờm hằng ngày ít nhất 5-10ml (đầy một đáy bao diêm) về sau tăng nhiều hơn. Khi tiến triển lâu ngày, thêm biến chứng giãn phế quản hoặc apxe hoá, khối lượng đờm có thể hàng chén. Các đợt ho đờm thường xảy ra lặp đi lặp lại, ban đầu 4-5 lần một năm, mỗi lần 10-15 ngày, về sau thường xuyên và kéo dài hơn.
- Khó thở là một triệu chứng quan trọng, xảy ra ở giai đoạn muộn hơn. Lúc đầu chỉ là cảm giác "trống hơi" nặng nề như bị đè nén trong ngực, dần dần bệnh nhân cảm thấy thiếu không khí thực sự.
- Ngoài ra còn có một số triệu chứng khác, tuy không thường xuyên như gầy sút, xanh xao, buồn ngủ lơ mơ suốt ngày, tim đập nhanh...
Điều trị
- Tùy từng trường hợp cụ thể, về nguyên tắc, điều trị viêm phế quản mạn gồm 3 nội dung chính: chống nhiễm khuẩn mới (bội nhiễm); phục hồi lưu thông không khí; chống nguy cơ suy hô hấp
Phòng bệnh: dự phòng 3 cấp: 1. dự phòng căn nguyên, loại trừ các yếu tố gây bệnh (dự phòng cơ bản); 2. dự phòng "chậm trễ": phát hiện kịp thời, điều trị đúng lúc; 3. dự phòng "tàn phế": tích cực điều trị dù đã muộn, hạn chế tàn phế, đẩy lùi tử vong
- Chống hút thuốc và các nguyên nhân gây ô nhiễm không khí (khói, bụi, không khí bẩn) trong gia đình cũng như nơi làm việc
- Chữa các ổ viêm nhiễm mạn tính vùng mũi họng
- Giảm uống rượu
- Phòng các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính cho trẻ em
- Điều trị sớm và triệt để các viêm nhiễm đường hô hấp. 
Hiện nay, chúng ta có thể sử dụng thuốc đông y kết hợp với máy vật lý trị liệu hỗ trợ chữa bệnh. Các bạn có thể tham khảo website: www.savinaco.vn

Dược thảo điều trị ho do viêm họng và viêm phế quản

Ho do viêm họng và viêm phế quản là những chứng bệnh thường gặp, nhất là trong mùa thu - đông. Theo y học cổ truyền, bệnh được chia làm hai thể cấp tính và mạn tính. Nguyên nhân do phong hàn, phong nhiệt và khí táo. Phong hàn, phong nhiệt xâm nhập vào cơ thể sinh viêm, nhiễm khuẩn khí phế quản, gây ho đờm nhiều; Khí táo là giảm tiết dịch niêm mạc đường hô hấp gây ho khan, viêm họng, ngứa họng.

1. Cam thảo
Trong thử nghiệm trên động vật, cam thảo đã được chứng minh có các tác dụng giảm ho, chống co thắt cơ trơn, chống viêm và chống dị ứng. Hoạt chất acid glycyrhizic ở cam thảo có tác dụng ức chế sự phát triển của nhiều loài vi khuẩn gây bệnh.
Trong y học cổ truyền, cam thảo được dùng làm thuốc long đờm chữa ho khản tiếng, viêm họng, viêm phế quản. Ngày uống 4-20g dưới dạng bột, thuốc hãm, nước sắc, thường phối hợp với các vị khác.

2. Cát cánh
Trên thực nghiệm, rễ cát cánh biểu hiện các tác dụng long đờm và giảm ho. Thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân cho thấy nhóm hoạt chất saponin của cát cánh có tác dụng tiêu đờm rõ rệt. Khi uống, saponin gây kích thích niêm mạc họng và phế quản dẫn đến phản ứng tăng tiết dịch nhầy ở niêm mạc, làm cho đờm loãng dễ bị tống ra ngoài.
Rễ cát cánh được dùng chữa ho có đờm, viêm đau họng khản tiếng, viêm phế quản. Ngày uống 10-20g dạng thuốc sắc.


3. Dâu
Cao chiết từ lá, vỏ, rễ và thân cây dâu có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi khuẩn gram dương và an thần nhẹ. Trong y học cổ truyền, vỏ rễ dâu chữa phế nhiệt, ho có đờm, ho gà trẻ em, ngày uống 4-12g, có khi đến 20-40g, dùng dạng thuốc sắc hay thuốc bột. Lá dâu chữa ho, viêm họng, viêm phế quản. Ngày uống 4-12g, dạng thuốc sắc.


4. Gừng
Trên thực nghiệm, gừng có tác dụng chống co thắt cơ trơn, chống dị ứng, kháng histamin, chống viêm và giảm ho. Hoạt chất cineol trong gừng có tác dụng diệt nhiều loại vi khuẩn gây bệnh.
Gừng tươi được dùng chữa cảm mạo phong hàn, ngạt mũi, ho có đờm. Ngày dùng 4-8g dạng thuốc sắc. Gừng khô, gừng sao chữa ho suyễn, viêm phế quản; Làm thuốc chống cảm lạnh, chống nhiễm khuẩn trong các chứng ho và sổ mũi. Ngày uống 4-20g dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán, thường phối hợp với các vị khác.

5. Mạch môn
Rễ mạch môn có các tác dụng kháng khuẩn đối với phế cầu và tụ cầu vàng, chống viêm, ức chế ho trong mô hình gây ho thực nghiệm trên động vật, đồng thời có tác dụng long đờm, làm tăng tiết dịch nhầy ở niêm mạc khí phế quản. Mạch môn được dùng chữa ho khan, viêm họng. Ngày uống 6-20g, dạng thuốc sắc.

6. Tía tô
Tinh dầu tía tô có tác dụng ức chế các vi khuẩn tụ cầu vàng, liên cầu tan máu, phế cầu. Hoạt chất luteolin trong tía tô có tác dụng chống dị ứng. Tía tô được dùng làm thuốc long đờm, chữa ho nhiều đờm. Ngày dùng 3-10g, sắc uống.


7. Tiền hồ
Tiền hồ có tác dụng kháng khuẩn đối với tụ cầu vàng và một số vi khuẩn khác. Ngoài ra còn có tác dụng long đờm. Trong y học cổ truyền, tiền hồ được dùng làm thuốc long đờm, chữa ho, đờm suyễn, viêm phế quản. Ngày uống 8-15g dạng thuốc sắc.



CÁC BÀI THUỐC
1. Chữa ho do lạnh:
Tía tô, bách bộ, mỗi vị 12g; Húng chanh, sả, mỗi vị 10g; Gừng, trần bì mỗi vị 8g; Bạch chỉ 6g. Sắc uống ngày một thang.
2. Chữa ho có đờm:
a. Cam thảo 8g, cát cánh 4g. Sắc uống ngày một thang.
b. Cát cánh, kinh giới, bách bộ, mỗi vị 200g; Trần bì 100g, cam thảo 60g. Các vị tán nhỏ, trộn đều, mỗi lần uống 1-3g, ngày 3 lần vào sau hai bữa ăn và trước khi đi ngủ.
3. Chữa ho viêm họng:
Vỏ trắng rễ dâu, bách bộ (bỏ lõi sao vàng), mạch môn, mỗi vị 10g; Vỏ quýt, xạ can, cam thảo dây, mỗi vị 5g. Làm dạng thuốc phiến, mỗi phiến 3g, ngày ngậm 4-5 lần, mỗi lần 1 phiến.
4. Chữa trẻ em viêm họng, viêm phế quản:
Mạch môn, huyền sâm, thiên môn mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang, chia làm 3 lần.
5. Chữa viêm phế quản đờm không tiết ra được:
Tiền hồ, tang bạch bì, đào nhân, bối mẫu, mỗi vị 10g; Khoản đông hoa 8g, cát cánh 5g, cam thảo 3g. Sắc uống ngày một thang.
6. Chữa viêm phế quản cấp tính:
a. Kim ngân, lá dâu, mỗi vị 12g; Bạc hà, cúc hoa, lá ngải cứu, mỗi vị 10g, xạ can 8g. Sắc uống ngày một thang.
b. Tía tô 12g; Lá hẹ, kinh giới, mỗi vị 10g; Bạch chỉ, rễ chỉ thiên, mỗi vị 8g; Xuyên khung, trần bì, mỗi vị 6g. Sắc uống ngày một thang.
c. Tiền hồ, hạnh nhân, tử uyển, mỗi vị 12g; Cát cánh 8g, cam thảo 4g. Tán bột làm viên, ngày uống 15-20g, chia 3 lần.
d. Tiền hồ, hạnh nhân, tô diệp, mỗi vị 10g; Cát cánh 8g; Bán hạ chế, chỉ xác, phục linh, cam thảo, mỗi vị 6g; Trần bì 4g, đại táo 4 quả, gừng 3 lát. Tán bột làm viên, ngày uống 15-20g, chia làm 3 lần.
7. Chữa viêm phế quản cấp và đợt cấp của viêm phế quản mạn tính:
Tiền hồ, lá dâu, cúc hoa, liên kiều, ngưu bàng tử, hạnh nhân, mỗi vị 12g; Cát cánh 8g, bạc hà 6g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày một thang.
8. Chữa viêm phế quản mạn tính:
Vỏ rễ dâu, mạch môn, rau má, bách bộ, mỗi vị 10g; Trần bì, bán hạ chế, mỗi vị 6g. Sắc uống ngày một thang.  
Hiện nay, chúng ta có thể kết hợp các loại thảo mộc này với máy vật lý trị liệu giúp điều trị bệnh nhanh hơn, hiệu quả hơn. Nếu muốn tìm hiểu thêm, các bạn hãy vào website: www.mayvatlytrilieu.com.vn



Phòng bệnh viêm phế quản mãn tính ở người cao tuổi

Ở người cao tuổi, các chức năng đều suy giảm, trong đó, viêm phế quản mạn tính là một bệnh lý thường gặp nhưng lại chưa có sự chủ động phòng ngừa từ phía người bệnh.

Vì vậy, cần tích cực phòng ngừa để người cao tuổi có thể nâng cao chất lượng sống và không phải lo đến bệnh mạn tính của mình. Khói thuốc là nguyên nhân chính dẫn đến viêm phế quản mạn tính

Khói thuốc làm giảm vận động lông chuyển của tế bào niêm mạc phế quản, làm quá sản, phì đại, tăng tiết nhày của các tuyến. Khói thuốc lá còn kích thích bạch cầu đa nhân giải phóng men tiêu protein, gây co thắt phế quản. Ngoài ra, phải kể đến nguyên nhân ô nhiễm khói bụi: SO2, NO2... Các ổ nhiễm khuẩn đường hô hấp trên và các đợt nhiễm khuẩn phế quản cấp tính, khí hậu lạnh và ẩm.




Một nguyên nhân nữa phải kể đến là cơ địa và di truyền: dị ứng, nhóm máu A, thiếu IgA, bệnh nhày nhớt và giảm alpha1 antitripsin.

Các thể viêm phế quản mạn tính thường gặp

Chẩn đoán viêm phế quản mạn tính dựa vào triệu chứng ho khạc đờm từng đợt hoặc thường xuyên 3 tháng trong 1 năm và sau 2 năm liên tục. Viêm phế quản mạn tính được chia làm 3 thể lâm sàng:



Viêm phế quản mạn tính đơn thuần: người bệnh chỉ ho khạc đờm. Buổi sáng ho nhiều hơn. Đờm nhày trong dính, vàng đục khi có bội nhiễm và ho thường tăng vào mùa thu, mùa đông.

Viêm phế quản mạn tính tắc nghẽn: người bệnh khó thở và khò khè do phế quản bị tắc nghẽn bởi niêm mạc phế quản dày, tăng tiết.

Viêm phế quản mạn tính nhày mủ: Người bệnh khạc đờm nhày mủ từng đợt do bội nhiễm hoặc liên tục. Người cao tuổi dễ mắc thể co thắt và các đợt kịch phát.

Như vậy, dựa vào lâm sàng cũng đã có thể chẩn đoán được viêm phế quản mạn tính, tuy nhiên, để khẳng định hơn nữa và để phát hiện các bệnh khác cũng có triệu chứng ho khạc đờm kéo dài như: lao phổi, giãn phế quản, hen phế quản, ung thư phế quản..., cần chụp lồng ngực.

Trên phim lồng ngực có thể phát hiện được 3 hội chứng: Hội chứng phế quản: thành phế quản dày, hình ảnh đường ray; Hội chứng phế nang: tăng sáng; Hội chứng mạch máu: mạch máu ở trung tâm to, ở ngoại vi thưa thớt.

Chụp CT lồng ngực độ phân giải cao phát hiện các tổn thương nói trên rõ hơn, chính xác hơn.

Phòng bệnh viêm phế quản mạn tính thế nào?

Điều trị viêm phế quản mạn tính ở người cao tuổi tuân theo nguyên tắc chung: Kháng sinh được chỉ định khi có dấu hiệu nhiễm khuẩn đờm vàng, có mủ. Sốt và chỉ số bạch cầu tăng trong máu. Thể tắc nghẽn mạn tính và nhày mủ nên chọn kháng sinh mạnh, phổ rộng ngay.



Ưu tiên 2 nhóm: cephalosporin thế hệ 2, 3 và macrolid: rovamyxin, roxithromixin. Thuốc long đờm: acemux, bisolvon.

Nếu phế quản tắc nghẽn, khó thở, sử dụng: Giãn phế quản: salbutamol, theophylin; corticoid: prednisolon, metylprednisolon;

Vận động liệu pháp: vỗ rung, dẫn lưu tư thế. Rối loạn thông khí nặng phải hỗ trợ hô hấp bằng thở máy không xâm nhập hoặc thở máy xâm nhập.

Phòng mắc viêm phế quản mạn tính rất quan trọng trước hết là không hút thuốc lá, thuốc lào. Nếu đã hút thuốc phải bỏ hút càng sớm càng tốt. Hạn chế tiếp xúc với các tác nhân gây ô nhiễm. Làm việc ở nơi khói bụi, hơi độc phải có phương tiện bảo hộ, ít nhất là mang khẩu trang.

Phòng những đợt bùng phát cấp tính cần ngăn chặn các đợt viêm nhiễm cấp tính, cúm. Mùa lạnh phải giữ ấm. Điều trị sớm các viêm nhiễm đường hô hấp trên. Tiêm vaccin chống cúm, tiêm hoặc uống các vaccin đa giá để hạn chế viêm nhiễm đường hô hấp. Thường xuyên tập thể dục thể thao các môn phù hợp: thái cực quyền, luyện thở bằng thở bụng để cải thiện rối loạn thông khí.
Ngoài ra, chúng ta có thể sử dụng thiết bị hỗ trợ điều trị bệnh viêm phế quản như máy vật lý trị liệu. Nếu muốn tìm hiểu thêm, các bạn hãy vào website: www.savinaco.vn



Viêm phế quản mạn tính: Tuổi càng cao, bệnh càng nặng


Bệnh phế quản mạn tính là bệnh lý thuộc đường hô hấp dưới. Bệnh gặp nhiều ở người cao tuổi. Đôi khi viêm phế quản mạn tính và khí phế thũng kết hợp với nhau hình thành bệnh phế quản - phổi tắc nghẽn không đặc hiệu.
Theo Tổ chức Y tế thế giới, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hiện là nguyên nhân gây tử vong và tàn phế đứng hàng thứ 4 trên thế giới với khoảng 50 triệu người mắc và 3 triệu người chết hàng năm. Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở những người trên 40 tuổi là 5,2% (miền Bắc) và có khoảng 4 triệu người trong nước mắc bệnh này.



Vì sao bị viêm phổi mạn tính?

Viêm phế quản mạn tính là hiện tượng viêm toàn bộ phế quản gây ho và khạc đờm kéo dài ít nhất 3 tháng trong 1 năm và kéo dài trong 2 năm liên tiếp mà không phải do một bệnh hô hấp nào khác gây nên như áp-xe phổi, lao phổi, giãn phế quản...

Có nhiều nguyên nhân gây nên bệnh viêm phế quản mạn tính ở người cao tuổi, trong đó do sự giảm chức năng đề kháng của cơ thể, sức khoẻ nói chung bị sa sút bởi tuổi tác cao và sự xâm nhiễm của vi sinh vật gây bệnh đóng vai trò hết sức quan trọng. Một số nguyên nhân thuận lợi như nghiện thuốc lá, thuốc lào; sống trong môi trường có nhiều bụi, dùng bếp than lâu ngày như đun than tổ ong, than củi, rơm rạ; cơ địa hay bị dị ứng đường hô hấp như hen suyễn, viêm phế quản nhiễm khuẩn mạn tính, kéo dài ngay từ lúc còn nhỏ tuổi hoặc có một số dị dạng về khung xương sườn, cột sống như gù vẹo cột sống...



Hệ lụy của viêm phế quản mạn tính


Trong bệnh viêm phế quản mạn tính thường có 3 hiện tượng: ho, khạc đờm nhày hoặc mủ và khó thở. Giai đoạn đầu của bệnh viêm phế quản mạn tính là người bệnh ho và khạc ra đờm vào buổi sáng. Ho thường xảy ra từng đợt, nhất là khi thời tiết thay đổi (nóng, lạnh đột ngột, chuyển mùa từ nóng sang lạnh hoặc ngược lại), mỗi đợt kéo dài từ 1 tuần đến vài tuần, mỗi năm có khi xảy ra ho 5 - 6 lần. Tính chất của đờm thường có màu trắng, lỏng hoặc đặc quánh, đôi khi có bọt. Bệnh càng kéo dài gây ho càng nhiều, đờm càng ngày càng đặc hơn và đổi màu (thường là màu vàng), khối lượng đờm do ho, khạc ra trong 1 ngày có khi lên tới 10ml hoặc hơn thế nữa. Những tháng sau, năm sau ho càng ngày càng tăng lên và số lượng đờm cũng tăng dần lên, bệnh cũng càng nặng hơn: mỗi đợt ho sẽ kéo dài hơn vài tuần và số lần ho cũng tăng lên một cách đáng kể.


Ở giai đoạn muộn hơn của viêm phế quản mạn tính thường có khó thở. Lúc đầu người bệnh chỉ cảm thấy nặng ngực, dần dần khó thở thực sự. Bệnh càng lâu và càng nặng thì sự thiếu hụt không khí càng nhiều, gây rối loạn chức năng hô hấp một cách đáng kể, do đó người bệnh luôn thiếu dưỡng khí gây nên mệt mỏi, sụt cân, ảnh hưởng đến nhiều chức năng khác của cơ thể, nhất là hệ tuần hoàn và hệ thần kinh trung ương (tim đập nhanh, mệt mỏi, buồn ngủ...). Viêm phế quản mạn tính thường có 2 loại: loại lành tính và loại ác tính. Viêm phế quản mạn tính lành tính là loại chỉ xảy ra ở phần thân của các phế quản lớn (khí quản, phế quản gốc, thuỳ và phân thuỳ). Nếu hiện tượng viêm nhẹ thì ít khi gây suy hô hấp, loại viêm phế quản mạn tính lành tính chiếm tỷ lệ cao nhất (khoảng 90%). Viêm phế quản mạn tính thể ác tính chiếm tỷ lệ thấp hơn rất nhiều (khoảng 10%), thường xảy ra ở các tiểu phế quản và gây hội chứng tắc nghẽn thở ra (syndrome obstructif expiratoire) dẫn đến suy thở và rất dễ dẫn đến tâm phế mạn ở người cao tuổi.

Khám thực thể, khi nghe phổi sẽ thấy có ran rít và ran ẩm nhỏ hạt ở 2 phế trường. Trong những đợt tiến triển cấp tính thì khi nghe phổi có thể thấy nhiều ran hơn khắp 2 phế trường. Khi bệnh có xu hướng tiến triển xấu đi (hình thành bệnh khí phế thũng) thì khám thấy rì rào phế nang giảm rõ rệt. Các loại cận lâm sàng như xét nghiệm công thức máu sẽ thấy đa hồng cầu (một thời gian vài năm sau khi bị viêm phế quản mạn tính); lưu lượng hô hấp khi gắng sức sẽ giảm; dung tích sống, thể tích thở ra tối đa giảm; PaO2 và PaCO2 giảm (khi đo khí trong máu). Xquang có thể thấy mạng lưới phế - huyết quản tăng đậm.




Để không bị mắc viêm phế quản mạn tính

Một số thói quen như nghiện thuốc lá hoặc thuốc lào nên bỏ càng sớm càng tốt. Nếu chưa có điều kiện dùng bếp ga, bếp điện thì cần cải thiện việc dùng bếp than, củi, rơm rạ bằng cách dùng loại bếp ít khói. Nhà ở cần thông thoáng để tránh hiện tượng khói bếp ứ đọng nhiều giờ, không khí không được lưu thông. Cùng với cộng đồng, tích cực tham gia hoặc vận động mọi người trong gia đình, làng xóm, dân phố vệ sinh môi trường sống càng sạch, càng ít bụi càng tốt. Nếu bị viêm đường hô hấp (hô hấp trên và hô hấp dưới) cần được khám và điều trị dứt điểm, không để bệnh trở thành mạn tính. Cần tập thể dục thường xuyên để điều hoà nhịp thở như hít thở, đi bộ, chơi thể thao. Tập thể dục và chơi thể thao phải tuỳ theo sức của mình, không nên gắng sức tập quá khả năng hoặc quá sức lực của mình và phải tập theo bài bản.

Chế độ ăn bệnh viêm phế quản

  

Cũng giống như những chứng bệnh viêm khác, viêm phế quản chịu tác động rất nhiều của chế độ ăn uống. Rất nhiều nghiên cứu được thực hiện bởi các chuyên gia y tế hàng đầu trên thế giới đã chỉ ra rằng: có mối quan hệ mật thiết giữa chế độ ăn uống và sự tăng lên hay giảm nhẹ của tình trạng viêm phế quản.
Các chuyên gia dinh dưỡng khuyên những bệnh nhân viêm phế quản nên tuân theo chế độ ăn như sau:

Các loại thực phẩm, đồ uống nên tránh

Tránh hoặc hạn chế tối đa các món rán, xào như: khoai tây chiên, bánh rán, thịt rán,… Những món ăn giàu chất béo kể cả sữa chứa hàm lượng chất béo cao, calo cao cũng không được khuyến khích đối với bệnh nhân viêm phế quản, bởi nó là thủ phạm làm tăng triệu chứng khó thở ở bệnh nhân viêm phế quản.
Hạn chế lượng muối trong chế độ ăn hàng ngày. Thừa muối sẽ dẫn tới tình trạng cơ thể tích lũy chất lỏng. Khi đó các mô phế quản cũng hấp thụ chất lỏng, làm tình trạng viêm phế quản gia tăng, đồng thời quá trình sản xuất chất nhầy cũng tăng theo. Muối có nhiều trong các loại đồ ăn nhanh, đồ ăn đông lạnh, đồ ăn đóng hộp. Vì thế bệnh nhân viêm phế quản không nên tiêu thụ nhiều thức ăn nhanh, đông lạnh, chế biến sẵn.

Nên giảm lượng đường tinh luyện trong chế độ ăn đối với bệnh nhân viêm phế quản, bởi nếu bệnh nhân viêm phế quản thường xuyên tiêu thụ các loại đồ ăn như bánh kẹo, nước ngọt,… gây tình trạng đường tinh luyện trong cơ thể bị thừa, làm gia tăng hiện tượng khó thở.
Kiêng ăn các đồ cay nóng như ớt, hạt tiêu,… dễ gây kích thích niêm mạc phế quản gây hiện tượng ho.

Nên tránh các loại hoa quả chua, chát như: mận, táo chua vì những thực phẩm này sẽ khó long đờm.
Không nên uống rượu vì rượu làm gia tăng tình trạng viêm phế quản. Đặc biệt không nên uống rượu trước khi đi ngủ vì khả năng thông khí của phổi người bệnh vốn đã kém. Nếu uống rượu trước khi đi ngủ se làm liệt trung khu hô hấp, dễ gây loạn nhịp thở hoặc ngừng thở dẫn đến nguy hiểm tới tính mạng.

Các loại thực phẩm tốt cho bệnh nhân viêm phế quản


Chế độ ăn nhiều trái cây và rau xanh sẽ cung cấp lượng vitamin cần thiết cho cơ thể. Ngoài ra các loại vitamin như vitamin C, E, A, có tác dụng làm giảm tình trạng viêm ở phế quản, tình trạng khó thở của bệnh nhân. Các loại hoa quả, rau xanh giàu chất chống oxy hóa, đặc biệt tốt cho bệnh nhân viêm phế quản được bác sĩ khuyên dùng: dâu tây, các loại quả mọng, bông cải xanh, rau bina và cà rốt.

Nên ăn các thực phẩm giàu dinh dưỡng, dễ tiêu như gạo, bột mì, ngũ cốc, các thực phẩm khác như đậu Hà Lan, sữa bò, sữa đậu nành, đậu phụ, trứng gà.
Các sản phẩm từ sữa rất giàu vitamin D, canxi, và protein là nguồn dinh dưỡng quan trọng và cần thiết cho cơ thể. Bệnh nhân viêm phế quản nên tiêu thụ nhiều các sản phẩm từ sữa (tuy nhiên cần chú ý các sản phẩm sữa đó phải có hàm lượng chất béo thấp). Tốt nhất nên ăn nhiều sữa chua vì sữa chua chứa nhiều vi khuẩn thân thiện có lợi cho hệ thống tiêu hóa và cũng có tác dụng tốt đối với bệnh nhân viêm phế quản.

Uống nhiều nước sẽ giúp cơ thể đào thải các độc tố khỏi cơ thể một cách dễ dàng hơn. Những người bị viêm phế quản thường dễ bị mất nước hơn so với những người bình thường, uống nhiều nước sẽ giúp giảm tình trạng viêm, tình trạng khô họng của bệnh nhân.

Như vậy đối với bệnh nhân viêm phế quản thì một chế độ ăn uống hợp lý và cân bằng cũng là một trong những phương pháp góp phần tích cực để điều trị bệnh viêm phế quản.
Bên cạnh đó, chúng ta có thể kết hợp sử dụng máy vật lý trị liệu để hỗ trợ điều trị bệnh viêm phế quản. Nếu muốn tìm hiểu thêm về máy, các bạn có thể vào website: http://nguyenthihongnhung.mayvatlytrilieu.info/


iBooks

{picture#https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgcBwWUu0GEmJ_BjHLMUkWX6s_cBX7cUDMlXXysNtcfK60TcUt2BI1hXzkAEov3Q4YIP3Tw3tcd6PuzUSC_p-N1yfS78EFZuHuEWH-yTs4ALA6fl0Gujwp8d6lC5hU4rVPAD83FUHDDsb72/s1600/nguyen-duy-giang.png} DỰ ÁN CHIA SẺ SÁCH {facebook#https://www.facebook.com/ernestonguyengiang} {twitter#https://twitter.com/duygiangnguyen} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#https://www.pinterest.com/nguyenduygiang/} {youtube#https://youtube.com/nguyenduygiang} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}
Được tạo bởi Blogger.